1. Forum VietMBA đã được nâng cấp lên version mới. Mọi thông tin, báo lỗi và góp ý xin vui lòng post tại topic ⚠ Thông báo nâng cấp forum và danh sách các vấn đề phát sinh.

Niềm tin vào con người Việt -

Discussion in 'Đọc báo giùm bạn' started by nvha, Dec 3, 2010.

  1. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,780
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    Tình cờ thế nào mà tối lướt qua bài này. Một bài viết xúc động. Nó làm tôi nhớ lại cảm xúc của mình hơn chục năm trước, cái cảm giác ấy vẫn dai dẳng, đeo đẳng đến giờ. Khoảng năm 1998 tôi lên Nộ Bài tiễn khách Chính Phủ đi Nga, tôi mới giật mình, có lẽ chưa chuyến bay nào tôi có đuơc cảm giác đấy. Ngày đó, người Việt ra nước ngoài ở những chuyến bay, những nơi mà tôi gặp đều xúng xính trong những bộ đồ bắt mắt ( hoặc ít nhất là người ta có sự chuẩn bị kỹ lưỡng ), trông không đến nỗi nào.

    Nhưng chuyến bay đi Nga đấy là một chuyến tàu chợ thực sự của những năm bao cấp, nhưng bao tải rau, thùng carton rau muống, rau thơm, mắm tôm, chanh, ớt vv... và đội ngũ cửu vạn chuyên chở những cái đó để làm thủ tục...tôi mới giật mình thấy rằng, đây mơi thực sự là cái Việt nam của chúng tôi, lam lũ, vất vả, toan lo và đầy hy sinh. Có khi nào trên các chuyến bay quốc tế bạn thấy điều ấy không? Nhưng tất cả họ không thiếu khát vọng vươn lên để khẳng định mình, để làm một điều gì đó tốt đẹp hơn cho gia đình, cho tương lai.

    ...................

    Nhờ admin đóng luôn hộ cái thread này. Cám ơn.


    http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-11-29-niem-tin-vao-con-nguoi-viet

    Niềm tin vào con người Việt - Tác giả: Alan Phan
    Bài đã được xuất bản.: 30/11/2010 04:00 GMT+7


    Trong dòng đời, đối diện những thử thách khó khăn, chính con người "lì" như tôi cũng nhiều lúc muốn buông thả. Nhưng nhìn những tấm gương như chị Gấm, tôi thấy mình không có quyền bỏ cuộc.

    Năm 1983, trong một dịp về thăm nhà ở California, tôi đang loay hoay sửa lại hệ thống tưới nước cho khu vườn trước nhà, áo quần mặt mày lem luốc như một anh lao công Mỹ chính hiệu; thì một người phụ nữ lạ mặt xuất hiện ngoài cổng, cao tiếng, "Ông Tổng; Ông Tổng". Đã lâu lắm tôi mới nghe lại danh từ này.

    Ngạc nhiên, tôi ra mở cửa mời khách vào nhà. Chị giải thích, "Con là nhân viên cắt thịt của nhà máy Dona Foods ở Biên Hòa ngày xưa. Chắc ông không nhớ?" Tôi lắc đầu. Nhà máy có hơn 3.000 nhân viên, ngoài các cán bộ trong ban quản lý, tôi thực sự không biết ai. Chị đưa ra tấm thẻ ID cũ của công ty, đã bạc màu, nhưng vẫn còn nhận rõ tên Dương Thị Gấm, với tấm hình đen trắng ngày xưa rất quê mùa, có cả tên và chức vụ của anh quản lý trong khu vực sản xuất.

    Chị tiếp tục kể, "Sau khi chính quyền tiếp thu, con làm thêm 4 tháng rồi bị cho nghỉ vì nhà máy không đủ nguyên liệu để điều hành. Con lên thành phố làm ô sin cho một gia đình vừa ở ngoài Bắc vô. Sau 1 năm, ông chủ được thăng chức điều về Hà Nội. Vì con làm việc tốt, ông đem con đi luôn và con ở ngoài đó đến 2 năm. Trong thời gian làm thuê, có ông nhân viên ngoại giao người Đức cạnh nhà. Ông ta lớn tuổi, nhưng ngỏ ý muốn cưới con và đem về Đức khi mãn nhiệm. Muốn giúp gia đình nên con đồng ý, dù con chỉ mới 22 tuổi trong khi ông ta đã hơn 60." Tôi nhìn chị kỹ hơn. Năm 1975, chị mới 19, thì năm nay, có lẽ chị chỉ mới 27, nhưng xem chị già và phong trần nhiều. Chị thuộc loại đàn bà xấu, dưới trung bình, lại thêm đôi chân bị khập khễnh. Có lẽ những bệnh tật, bất hạnh và mặc cảm đã làm chị già trước tuổi?

    "Con theo chồng về Đức được 3 năm thì phải bỏ trốn, rồi ly hôn, vì ông này mỗi lần say rượu là đánh đập con tàn nhẫn. Con phải vào nhà thương cả chục lần mỗi năm. Không có tiền bạc hay của cải, làm bồi bàn khổ cực, nên con nghe lời rủ rê của bạn bè chạy qua Mỹ tìm đường sống. Con đến Los Angeles được 6 tháng nay." Đại khái, chị đang làm nhân viên thoa bóp (masseuse) cho một tiệm trên San Bernadino. Thu nhập cũng tạm đủ sống, nhưng có cơ hội, người chủ muốn sang tiệm, nên chị tìm cách mua lại.

    Một góc khu chợ của người Việt tại Đông Âu.

    "Con dành dụm được hơn 12 ngàn đô la, nhưng còn thiếu 5 ngàn nữa. Nghe tin ông Tổng ở đây, con hy vọng ông giúp cho con số tiền này để con có cơ hội vươn lên".

    Tôi đính chính với chị, tôi đã hết là ông Tổng, hiện nay chỉ là một nhân viên xoàng của một ngân hàng nhỏ ở Wal Street, sống đời trung lưu bình dị như triệu người Mỹ khác. Nhưng may cho chị là hôm ấy, gần ngày Giáng Sinh, tôi thấy rộng lượng và nhất là vừa nhận được tấm chi phiếu khá lớn của ngân hàng cho tiền thưởng cuối năm. Tôi cho chị mượn 5 ngàn và thực sự, không nghĩ rằng mình sẽ thấy lại số tiền này, như nhiều trường hợp vẫn luôn xảy ra với bà con bạn bè.

    Nhưng chỉ 6 tháng sau, chị lại tìm đến nhà trả lại số tiền 5 ngàn và còn muốn đưa thêm 3 ngàn tiền lãi. Tôi không có nhà, vợ tôi chỉ nhận lại 5 ngàn không lấy lãi và chúng tôi đều đồng ý là số tiến 5 ngàn khứ hồi này quả là chuyện thần thoại của Hollywood. Chị còn khoe với vợ tôi là đã mua thêm 1 tiệm massage khác.

    Bẵng đi 5 năm, tôi không gặp lại chị và cũng không liên lạc gì. Tình cờ, tôi và bạn bè vào một quán ăn khá sang trọng ở Bolsa (quận Cam) và người chủ tiệm đứng đón tiếp chúng tôi là chị Gấm ngày nào. Chị huyên thuyên câu chuyện, "Làm massage có tiền nhưng nhức đầu với nhân viên, khách hàng và cơ quan công lực, nên con bán hết 5 tiệm và quay ra kinh doanh nhà hàng. Ngoài tiệm này, con còn 2 tiệm nữa ở khu phố Tàu và khu đại học UCLA." Chị cũng khác hẳn lúc xưa. Áo quần thời trang bảnh bao, ăn nói lịch thiệp hơn, cư xử đúng như một bà chủ, và chiếc xe Mercedes đời mới đậu ngay cạnh cửa nói lên sự "thành công" của chị.

    Sau bữa ăn miễn phí, tôi cũng không liên lạc gì với chị, vì công việc làm ăn của tôi lúc này đem tôi đi khắp thế giới, không mấy khi về lại California. Cho đến năm 1997, khi tôi đi dự một hội thảo và triển lãm về ngành ngân hàng ở Chicago, chị lại xuất hiện. Tôi đang nghiêm túc ngồi trên bàn làm phối hợp viên (moderator), còn chị thì tươi cười chào tôi trong bộ âu phục của một nhân viên cao cấp (executive), với một thẻ bài đeo trên người có tên rất Mỹ là Christina Spencer. Trong bữa ăn chiều sau hội thảo, chị đưa tấm hình chồng chị và đứa con đã lên 3, rồi tiếp tục, "Trong khi kinh doanh, con đi học thêm vào buổi tối và cuối tuần, cuối cùng cũng lấy được mảnh bằng Cử nhân (Bachelor) về Tài chính (Finance). Sau đó con đi làm cho Wells Fargo (ngân hàng lớn ở California), gặp chồng con là Phó Giám Đốc R&D cho Xerox nên đời sống hai đứa cũng tốt đẹp. Chúng con đang sống ở Palo Alto (một khu giàu của Bắc California cạnh đại học Stanford)". Một nhân công nghèo hèn, thất học với một nhan sắc kém cỏi, lại gặp nhiều gian truân, chị đã lên tới đỉnh sung túc của một xã hội có sự cạnh tranh khắc nghiệt giữa nhiều loại dân tứ xứ. Tôi nhìn lại chị thêm lần nữa, một biểu tượng đáng khâm phục cho ý chí cầu tiến và sự hy sinh vô bờ để đạt đến giấc mộng của mình.

    Dĩ nhiên là chị không nói ra, nhưng tôi tin là trong cuộc hành trình 22 năm vừa qua của chị, đã không thiếu những tình huống hiểm nghèo, cay đắng và tuyệt vọng chị phải đối diện. Sức mạnh nội tại nào đã giúp chị vượt qua và bay cao mới thực sự là "cú đấm thép" mà cộng động chúng ta hay bàn luận.

    Không thiếu những trường hợp như chị trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Rời quê hương với hai bàn tay trắng, thiếu sót mọi kiến thức, kinh nghiệm và quan hệ trên xứ người, những người Việt như chị đã vượt lên mọi rào cản, trở ngại để dành cho mình một chỗ đứng dưới ánh mặt trời (a place in the sun).

    Tôi cũng còn nhớ một buổi sáng mùa đông nào, khoảng 1990, mấy người bạn đưa tôi đi thăm Chợ Vòm ở Moscow nơi phần lớn người Việt tụ tập mua hàng sỉ để đem về các tỉnh thành xa xôi ở Nga để bán lẻ lại. Tôi đã ái ngại nhìn những thùng đồ nặng trĩu trên đôi vai gầy yếu mỏng manh của vài thiếu nữ Việt Nam, quẩy gánh đi đến các trạm xe lửa, để tải hàng về những nơi như Siberia, Kazakhstan...chỉ nghe tên là đã lạnh run người. Họ là những biểu tượng đẹp nhất của tinh thần và sức sống Việt.

    Dĩ nhiên là tôi cũng đã từng gặp những người Việt "xấu xí" trên các nẻo đường thế giới. Những anh chị dốt nát nhờ chút quyền lực, có chút tiền, ra nước ngoài coi trời bằng vung, hành xử với tất cả ấu trĩ của một bậc "đại quê mùa". Hay những cậu ấm cô chiêu, nhờ tiền rừng bạc biển của cha mẹ cung cấp, ăn chơi đua đòi, nhiễm mọi thói hư tật xấu của bọn sinh viên hoang đàng. Nhưng các người này chỉ là thiếu số giữa một đám đông người Việt thầm lặng, kiên nhẫn, cần cù xây dựng cho mình một tương lai xứng đáng với mọi lời vinh danh cao cả nhất.

    Một góc chợ của người việt tại Đông Âu.

    Khi nói về sự hãnh diện của dân tộc, tôi nghĩ phần lớn những người Việt tha phương không cho hình ảnh các đại gia với máy bay riêng hay xe siêu sang là sự tiến bộ của xã hội. Hay các chân dài với đủ nhãn hiệu "hoa hậu", "siêu sao" là biểu tượng của thành công. Hay vài trận bóng đá với các nước láng giềng hoặc những xếp hạng rất vô nghĩa của các nhóm truyền thống quốc tế.

    Vả lại, ở lâu trên xứ người, chúng tôi đã chứng kiến những sự giàu sang hay tiếng tăm cả triệu lần các nhân vật hay sự kiện này.

    Niềm hãnh diện thực sự của chúng tôi là những Dương Thị Gấm, những cô gái buôn hàng lẻ ở Moscow, những em trẻ đứng đầu bảng ở các trường trung học, những khoa học gia đồng hành cùng các nhân tài thế giới ở rất nhiều viện nghiên cứu, những doanh nhân cạnh tranh ngang ngửa trên sân chơi bằng phẳng của các nền kinh tế tân tiến... Những người Việt đó là động lực khiến chúng tôi phải gắng đi thêm bước nữa trong những giờ phút đen tối khó khăn nhất, phải vượt qua cái kỹ năng hạn hẹp của mình để tỏa sáng.


    Trong dòng đời, đối diện những thử thách khó khăn, chính con người "lỳ" như tôi cũng nhiều lúc muốn buông thả. Muốn quay về một góc tối nào đó, an phận với cuộc sống an nhàn, cho qua kiếp người dâu bể. Nhưng nhìn những tấm gương như chị Gấm, tôi thấy mình không có quyền bỏ cuộc. Tôi tự nhủ mình đã quá may mắn, được nuôi dưỡng trong một môi trường lành mạnh, phong lưu, với đủ lợi thế cạnh tranh. Sự thất bại của mình sẽ là một vết nhơ gấp đôi những con người Việt kém may mắn khác. Do đó, mình phải vươn vai đứng dậy để tiếp tục, vì đây là bổn phận và danh dự của mình trước những người bạn đồng hành.

    Trước bối cảnh khó khăn hiện tại của kinh tế thế giới, và dự đoán là tình hình sẽ tệ hại hơn (theo nhận định chủ quan của tôi), tôi muốn nói với các doanh nhân trẻ và nhỏ của Việt Nam, trong hay ngoài nước, là nếu những con người như chị Gấm đã làm được, chúng ta cũng sẽ làm được. Điều thú vị nhất là lần ăn tối ở Chicago với chị Gấm, tôi bốc được một lời khuyên trong chiếc bánh may mắn (gọi là fortune cookies mà các nhà hàng Tàu ở Mỹ thường mời khách free. Bánh kèm bên trong một lời bói toán hay một câu nói của doanh nhân). Tôi còn giữ tờ giấy này, "Thua cuộc chỉ là một tình trạng tạm thời. Bỏ cuộc biến nó thành một sự kiện thường trực". (Being defeated is often a temporary condition. Giving up is what makes it permanent-- Marlene vos Savant). Chúng ta không tiên đoán về tương lai, chúng ta đang tạo dựng nó hàng ngày.


    http://www.viet-studies.info/ThuongDeTuVietNam_DCV.htm

    Đàn Chim Viết 1-08-2007

    Thượng Đế từ Việt Nam


    Quang Minh


    Dịp cuối tuần, tôi quyết định đi xả hơi ở Normandie theo lời mời của hai vợ chồng người bạn. Khí hậu trái đất thay đổi đến kỳ cục, đã cuối tháng Bảy rồi mà trời đất cứ âm u, biển ở Deauville vẫn lạnh, không tắm được. Chúng tôi đành nằm nhà, nấu nướng và tán dóc chờ thời tiết tốt lên. Đang ngán ngẩm thì có một cô bạn chung của chúng tôi tới. Cô này vui tính, đã thế lại nổi tiếng về tài nấu các món đậm đà hương vị quê nhà. Vừa đến cô đã xách ngay con vịt mang theo vào bếp để chế tạo món bún vịt xáo măng. Chúng tôi xì xụp ăn hết bát này đến bát khác, khen nức nở cô em thông minh nghĩ ra cái món vừa hợp khẩu vị vừa hợp tình, hợp cảnh để quên đi cái khó chịu của tiết trời.

    Nghe khen mà mặt cô vẫn chảy dài. Gặng hỏi, cô mới nói:

    – Em bày ra ăn vịt là để giải đen thôi. Vừa gặp một chuyện bực mình hết cỡ, chán không tả được. Đúng là bị “sao quả tạ” chiếu.

    – Cô vừa đi Côte d’Azur về mà. Ở vùng du lịch nổi tiếng thế giới mà còn chán thì ở đâu vui? Có chuyện gì vậy?

    – À, em vừa phải đi làm hướng dẫn viên du lịch cho một đoàn khách “đế vương” từ trong nước qua. Mình xa nước lâu, tưởng gặp đồng hương thì vui lắm, hoá ra không phải, toàn chuyện khó chịu. Nhưng thôi, em đã loại những “con giời” ấy ra khỏi bộ nhớ rồi của mình rồi, không muốn nhắc đến nữa.

    – Thì kể nghe nào – chúng tôi nhao nhao nhao đòi – Cứ biến mọi bực mình thành chuyện vui đi.

    Cô miễn cưỡng: Ừ, các anh chị muốn nghe thì em đành lôi từ “thùng rác” lên vậy. Chuyện là thế này:

    Ngày 12/07 em nhận được 1 cú phone của đại diện Vietravel đề nghị làm hướng dẫn viên cho một đoàn khách từ Việt Nam sang trong 4 ngày từ ngày 16/07 tới ngày 19/07 đi xuống vùng biển Côte d’Azur. Em từ chối phắt vì cháu em từ Tây ban nha về Hà Nội sẽ quá cảnh ở Paris chơi với em vài hôm tới 17/07 mới về. “Chị cố giúp em, ngày 17 em sẽ chịu trách nhiệm đưa cháu chị ra sân bay”. Đúng là trời xui đất khiến, em nể quá đành nhận lời.



    * * *



    Ngày 16/07 chuyến tàu tốc hành TGV 6177 khởi hành từ Paris lúc 13h50 đã đưa tôi và họ – một đoàn khách du lịch của Vô tuyến Truyền hình Việt Nam tới Nice, thủ phủ phía nam nước Pháp vùng Alpes – Maritimes. Thời gian kéo dài 5 tiếng rưỡi trên tàu tôi có dịp làm quen với các “thượng đế” của Vietravel. Đó là ba cặp vợ chồng và một em nhỏ 10 tuổi: vợ chồng chị Nguyễn Thị Kim Nhung và con gái 10 tuổi; vợ chồng anh Nguyễn Ngọc Tuệ; vợ chồng anh Lại Văn Sâm (1). Trong chuyến đi này qua chuyện trò tôi được biết hai cặp vợ chồng anh Tuệ và anh Sâm là khách mời của chị Nhung. Chị Nhung đã chi ra một khoản tiền gần 20.000 USD (khoảng 5000 USD/người) để chiêu đãi 2 cán bộ của Đài Truyền hình Việt Nam cùng với các phu nhân của họ đi du lịch 2 nước tây âu là Pháp và Hy Lạp (Greece) chỉ vì họ là những người bạn “tử tế” của chị ta.

    Chị Nhung phàn nàn với tôi: “chỉ vì để lấy visa cho 2 vị này (chị hất hàm về phía vợ chồng anh Tuệ) mà em phải mua tour du lịch của Vietravel đắt hơn đi riêng rất nhiều. Em chồng em ở Pháp có thể làm giấy mời, nhưng mời với tư cách cá nhân, lấy được visa ít nhất phải chờ 1 tháng, chỉ có đi theo tour du lịch thì mới có visa nhanh”.

    Đến lúc ấy tôi mới hiểu ra: không phải vì tình bạn thân thiết mà chị này mời các cán bộ nhà nước đi du ngoạn nước ngoài. Chị Nhung mời là có mục đích. Khi chị làm một cử chỉ “tử tế” với người mà chị mời thì khách cũng phải cư xử thế nào cho xứng đáng với chị ta một Nhà Sản xuất Phim truyền hình và Quảng cáo.

    Tôi hiểu: cái gì cũng có giá của nó, mặt hàng đã được bán.

    Tới Nice là 19g20, đoàn đã có xe đến đón. Theo lịch trình đoàn sẽ ở ba đêm 16, 17, 18/07 tại khách sạn Novotel-Nice Centre, 8–10 Parvis de l’Europe 06300 Nice. Xe chở cả đoàn chỉ là xe chở thuê, không có người khuân vác hành lý lên xuống xe. Chị Nhung bắt đầu lên tiếng phàn nàn, chê bai cách tổ chức của Vietravel.

    Nhận phòng xong (phòng 429 – vợ chồng chị Nhung và con; phòng 421– vợ chồng anh Tuệ; phòng 432 – vợ chồng anh Sâm) tôi dẫn khách đi ăn tối tại khu thành cổ phía gần bờ biển. Khách đòi ăn đồ biển ở nhà hàng Le Grand Bleu, 24 cours Saleya 06300 Nice, đối diện với dinh thự nguy nga, lấp lánh ánh đèn của Công tước de Savoie thuở trước.

    Tôi thông báo với khách là họ phải trả tiền những thức uống khách tự ý gọi thêm ngoài quy định nhưng chị Nhung liền phản đối và đòi tôi phải thanh toán. Tôi buộc phải gọi điện về Paris cho đại diện của Vietravel và yêu cầu họ trực tiếp nói chuyện với chị Nhung. Cuối cùng chị Nhung đã phải thuận trả khoản tiền này.

    Thế là kết thúc ngày đầu tiên với đoàn này.

    Ngày 17/07 tôi đưa đoàn đi Monaco thay vì đi Cannes như lịch trình đã định, lý do là trong số họ có anh Tuệ đã tới Cannes nhiều lần và cả đoàn nhất nhất làm theo đòi hỏi của anh ta. Trên đường tới Monaco, mặc dù không có trong chương trình nhưng tôi đã đưa họ đi thăm nhà thờ chính thống giáo Nga ở Nice thờ Thánh Nicolas xây dựng từ đầu thế kỷ trước(1912) vì trong đoàn có bốn người đã từng tốt nghiệp đại học tại Liên Xô.

    Đoàn tiếp tục đi Monaco, lái xe hôm đó rất tử tế đã dừng xe dọc đường cho khách chụp ảnh toàn cảnh vùng biển từ trên cao. Đến nơi tôi giới thiệu về mảnh đất vỏn vẹn có 1,5 cây số vuông nằm phía nam dưới chân dãy núi Alpes, giáp với Địa Trung Hải nổi tiếng với cái tên Công quốc Monaco, hấp dẫn biết bao du khách từ năm châu, bốn bể. Tôi nói về lịch sử ra đời của Công quốc độc lập và tự trị Monaco, về chính sách miễn trừ thuế khoá ở đây và điểm qua những danh lam thắng cảnh để khách có thể tham quan và chụp ảnh như bảo tàng Đại dương học, khu Vườn lạ, Casino Monte Carlo…

    Khách muốn ăn trưa ở một nhà hàng cạnh Casino, tôi phải giải thích cho họ biết ở nhà hàng này mỗi suất ăn phải mất tối thiểu 300 euros, và mức chi trả này không có trong chương trình. Sau đấy, tôi nói với lái xe đưa chúng tôi tới EZE ăn trưa với số tiền định sẵn tại nhà hàng Gascogne, Place de la Colette, 06360 EZE.

    Sau bữa ăn trưa tôi dẫn khách đi thăm Xưởng làm nước hoa và sản phẩm mỹ phẩm ở EZE. Tôi dự định dẫn họ quay lại Monaco xem khu Vườn lạ, nhưng cả đoàn quyết định không đi thăm khu vườn đó nữa mà trở về Monaco là để “các chị em đi shopping và các anh em tới Casino đánh bạc”. Tới Monaco tôi để các “thượng đế” làm theo ý họ và hẹn họ đến 19h giờ có mặt tại địa điểm tập kết để quay về Nice.

    Khi gặp lại mọi người tôi được biết anh Sâm sau 45 phút đã nướng mất 500 euros cho sòng bạc nổi tiếng này. Trị giá số tiền này có thể nuôi sống một gia đình nông dân Việt nam trong một năm.

    Chị Hải (vợ anh Tuệ) sau khi lên xe liền đề nghị đi ăn cơm tàu ở Nice. Tôi nói với lái xe dẫn khách tới quán tàu với giá cả phải chăng. Lái xe nói với tôi ở Nice có một quán tàu cực ngon theo kiểu buffet giá 15 euros một người, tôi đồng ý.

    Lái xe đưa khách về Nice tới thẳng quán Fast-foods nói trên. Quán này rộng rãi, sạch sẽ, rất nhiều món nóng (8 món), món nguội (6 món) và tráng miệng (6 món). Tôi không thể ngờ được phản ứng của đoàn khách “sang trọng” này khi họ bước chân vào quán ăn. Chị Nhung giãy lên, cương quyết không ăn ở đây, nói đây là quán ăn “bụi” cuả bọn Campuchia, rằng chị và các người bạn “tử tế” của chị không thể dùng bữa ở đây được và đòi tôi gọi taxi đi nơi khác ăn cơm tây. Đến lần này, tôi phải giải thích với mọi người là theo nguyên tắc khách du lịch theo đoàn không được cầm thực đơn gọi mà do hướng dẫn viên chọn và đặt món ăn theo mức định sẵn.

    Phản ứng của anh Tuệ còn tệ hơn. Anh ta nói với tôi: “Bà thử nhìn mặt tôi xem có phải là mặt ăn mày, chết đói hay không? Có phải tôi đến đây để xin một bữa ăn hay không?...” Tôi nhìn anh ta và nhớ ngay tới một phóng sự truyền hình trong đó Polpot cũng chỉ vào mặt mình như anh Tuệ và hỏi người phóng viên Pháp: “Est-ce que je suis méchant?” (Tôi có phải là người độc ác hay không?)

    Các “khách hàng – thượng đế” này hoàn toàn không có một chút hiểu biết gì về những nguyên tắc cơ bản của kiểu đi du lịch theo đoàn.

    Cuối cùng không còn cách nào khác tôi đành bảo họ trở ra xe đi tìm quán ăn khác cho những con người trưởng giả học làm sang này.

    Đến một quán ăn tàu chị Nhung bảo xe dừng lại, tất cả bọn họ vào đó, anh Thông (chồng chị Nhung, là một người gốc Hoa) thản nhiên gọi món ăn bằng tiếng Trung Quốc. Tôi thanh toán ngay tiền ăn và bước nhanh ra ngoài.

    Ngày 18/07/2007

    Sáng ngày ra khi xuống dùng bữa điểm tâm tại khách sạn, mọi người trong đoàn trông thấy tôi không chào hỏi. Tôi hẹn gặp cả đoàn ở ngoài sảnh. Khi có mặt tất cả mọi người tôi thông báo là xe đang đợi bên ngoài để đi Cannes theo đúng lịch trình.

    Anh Nguyễn Ngọc Tuệ vừa lấy tay chỉ vào mặt tôi vừa hét lên, chửi bới đại diện của Vietravel:

    – Nó ép tôi đi Cannes à, nó đè tôi à, nó “bắt cởi trần phải cởi trần, cho may ô mới được phần may ô” à? Nhưng tôi nói cho bà biết trong đời tôi, tôi có một cái sướng là bao giờ cũng làm theo ý mình. Hôm nay chúng tôi sẽ ở lại Nice, không đi Cannes.

    Tôi nói: “Anh có quyền không đi Cannes, nhưng anh phải ký vào đây để ghi lại rằng đây quyết định của anh, chứ không phải là của Vietravel”.

    – Tôi không ký mà là cô Nhung ký với Vietravel - anh ta né tránh. Chính đại diện của Vietravel thay đổi lịch trình, nó bắt chúng tôi vừa xuống máy bay đã đi Reims. Con vô văn hoá, con lưu manh, bà về bà nói lại với nó là tôi có cả ngành truyền thông trong tay, tôi có đầy đủ phương tiện để trị nó. Đừng tưởng có kiến thức là có văn hoá đâu…

    Có lẽ anh Tuệ thực sự không hiểu là anh ta đang bôi nhọ chính bản thân mình, bôi nhọ cơ quan Văn hoá Truyền thông Việt Nam mà anh ta làm đại diện qua những ngôn từ, hành vi của mình. Tôi nhìn anh Tuệ và mường tượng ra những phương tiện mà anh ta có thể dùng để trị những người mà anh ta không ưa. Thật hài hước! Trong xã hội loài người văn minh như hiện nay một kẻ thiếu văn hoá lại làm trong một cơ quan văn hoá, tự cho phép mình hành xử một cách vô văn hoá, trắng trợn vu khống và sỉ nhục người khác chỉ vì người ta không làm theo ý anh ta. Phải chăng anh Nguyễn Ngọc Tuệ mắc chứng cuồng ngôn, hay tâm thần? Một người bình thường không bao giờ xử sự như vậy.

    Tôi báo với lái xe là khách không đi Cannes hôm nay mà ở lại Nice mua sắm. Xe chở họ tới Nice Etoiles và hẹn đón họ đi ăn trưa ở gần khách sạn Méridien vào khoảng 13h.

    Đến 13h tôi điện thoại cho khách vì không thấy họ đến điểm hẹn. Hóa ra là họ đã tự đến quán ăn Nhật Bản – 27 rue d’ Angleterre và đang gọi thực đơn. Tôi đến đó tìm họ và được thông báo là họ sẽ bay về Paris tối nay, bỏ chuyến tàu trở lại Paris ngày hôm sau. Chị Nhung đã đòi lại tôi 7 chiếc vé tàu trở về Paris của họ (đi ngày hôm sau 19/07). Tôi đã đưa lại vé cho chị ấy sau khi hỏi lại đại diện của Vietravel.

    Tiếp đó tôi lại lấy xe chở một số người đi làm vé máy bay và một số đến trung tâm mua sắm, hẹn 18h30 quay lại đón. Tất cả những việc này đều nằm ngoài lịch trình, nhưng để chiều các “thượng đế” của Vietravel, tôi đã làm như vậy.

    Đúng giờ hẹn tôi tới đón khách đưa về khách sạn để họ kịp trả phòng và thu xếp hành lí bay về Paris chuyến tối. Trước khi lên đường anh Tuệ còn gầm lên nói là nếu cần anh ta có thể gọi taxi mà không cần đến xe đưa rước nữa. Lúc đó đã là 19h30.

    Đến 19h40 tôi tiễn mọi người ra xe đi sân bay, chúc họ thượng lộ bình an về Paris.



    * * *



    – Anh nghĩ gì về những đồng hương của chúng ta sau câu chuyện vừa rồi? Có nên giữ lại họ trong bộ nhớ hay không? Cô bạn hỏi tôi.

    Tôi trả lời rằng phải coi đó là sự không may, một tai nạn có thể xảy ra trong đường đời. Quên hay nhớ những rủi ro mà mình gặp phải còn tuỳ thuộc vào con người cụ thể và trường hợp cụ thể .

    Tôi có cách nói nước đôi, tù mù như vậy vì không muốn phủ nhận ngay tức khắc cái ngớ ngẩn, bảo thủ của mình – một người đang đứng trước ngưỡng của tuổi tác. Nhưng trong đáy sâu của tâm hồn tôi hiểu ra một lẽ là cần nhìn sự việc, con người đúng với giá trị thật của nó. Chắc là có sự tiêu cực trong việc mua bán giờ quảng cáo ở Đài Truyền hình Việt Nam.

    – Anh muốn biết “hồi sau” của họ ở Hy lạp không? Cô mỉm cười nói tiếp.

    Cô bé hướng dẫn ở Athens cho biết: “đoàn khách này lạ lắm cô ạ. Do máy bay của họ đến sớm 15 phút, nên họ không tìm thấy cháu ngay. Đến khi gặp cháu rồi họ không thèm chào hỏi và còn dọa nếu đợi thêm 5 phút nữa mà không gặp cháu là họ bắt taxi về khách sạn. Một ông trong đoàn hét tướng lên là chỉ có thằng điên thì mới đến Hy Lạp. Đến Delphes cháu muốn thuê hướng dẫn viên địa phương nói về truyền thuyết Hy Lạp ở đây thì họ bảo là không cần. Cháu có cảm tưởng là họ chỉ mau mau chóng chóng để về quán nhà cháu ăn đồ biển thôi. À, mà cô ạ, họ cũng chẳng cho tiền tip sau khi nhân viên khách sạn chuyển hành lý của họ lên phòng, làm cháu ngượng thay cho người Việt Nam mình…”.

    Đây là mấy ghi chép của tôi trong dịp nghỉ cuối tuần ở Normandie.



    Quang Minh

    Chú thích: Ông Nguyễn Ngọc Tuệ hiện là giám đốc Trung tâm khai thác phim truyền hình Đài truyền hình Việt Nam; ông Lại Văn Sâm là Trưởng Ban Tin tức –Giải trí –Thể thao – Kinh tế của kênh truyền hình VTV3 – đài Truyền hình Việt Nam.


    http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201049/20101203000205.aspx
    Đường về của những cô gái bán thân
    03/12/2010 0:02
    Nhân viên an ninh sân bay Changi (Singapore) áp giải các cô gái Việt Nam trước khi cho họ lên máy bay tại ga hành khách giá rẻ để trục xuất - Ảnh: Thục Minh


    Hai cô gái vừa thoát khỏi một nhà chứa trên đảo Borneo vui mừng cảm ơn Văn phòng Báo Thanh Niên tại Singapore. Đó là số ít may mắn. Còn các cô khác bị trục xuất như tội phạm. Có cô “trở về” bằng một nắm tro.
    Cuộc giải cứu may mắn

    Chiều 23.11, Văn phòng Báo Thanh Niên tại Singapore nhận được một cuộc gọi từ số máy di động ở Việt Nam. Người gọi là một thanh niên trẻ, giọng miền Nam chất phác, tên R. Anh R. cho hay người yêu đã dạm hỏi của anh đang kêu cứu từ một nhà chứa ở thành phố Miri, bang Sarawak của Malaysia. Tên cô là B., 26 tuổi, dạy học ở TP.HCM.

    Theo lời thuật của anh R., ngày 12.11.2010, chị B. cùng một người bạn gái khác mà anh không biết tên đi du lịch thăm một cô bạn người Việt ở thành phố Miri, giáp với Brunei, trên đảo Borneo. Đây là lần đầu tiên các cô đi nước ngoài. Họ đi máy bay từ TP.HCM sang Brunei, rồi được chị họ của cô bạn ở Miri đón và đưa sang Sarawak ngay trong ngày 12.11. Người này đã thu hộ chiếu của hai cô gái để “giữ giùm, tránh bị mất”. Hai cô được đưa về một nơi mà anh R. nói là quán cà phê Red Box (cái hộp đỏ) ở địa chỉ Pelita 2763. Tại đó, hai cô lập tức bị bắt “tiếp khách”. Thấy quá bất ổn, chị B. gọi điện về cho anh R., khóc lóc và nói muốn trốn về, nhưng hộ chiếu đã bị người ta giữ.

    Tôi hỏi anh R. rằng chị B. có biết người bạn của mình làm “tiếp viên” không? R. trả lời “có” và vò đầu bứt tóc: “Bây giờ em mới nghĩ sao mình ngu quá, biết vậy mà còn để bạn gái ra đi. Nhưng tại bạn em chưa đi nước ngoài lần nào, nên em nghĩ cho bạn đi để biết đó biết đây. Chỉ đi 5 ngày rồi về”. R. cho tôi số điện thoại di động của B. ở Malaysia và nhờ tôi giúp để cứu B. R. cũng dặn tôi rằng B. chỉ nghe điện thoại được từ 1 đến 4 giờ chiều, và có thể cũng bị người ta theo dõi, nên đôi khi phải dùng tiếng lóng.

    Tôi lần tìm trên Google, không có cái gọi là Red Box ở thành phố Miri. Từ các trang web du lịch cho đến các trang blog cá nhân, chỉ có Rex Box Karaoke MV, mà theo mô tả của một số blogger là ở tầng trên của cơ sở này có những phòng “cá nhân” tối om và “nhiều gái Trung Quốc”. Tôi không chắc về điều này.

    Tôi gọi điện, B. bắt máy, nhưng nói khẽ rằng có người ở gần nên không tiện nói chuyện, bởi “có thể mấy người đó cũng là tay chân của chủ”. B. hứa sẽ gọi lại, nhưng sau đó cô chỉ gửi một tin nhắn ghi âm vào điện thoại của tôi. Mẩu tin nói bằng thứ ngôn ngữ gì tôi không hiểu.

    Tôi gọi điện báo cho Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia. Sau đó gửi một công văn đề nghị sứ quán điều tra và hỗ trợ công dân nếu đúng sự thật.

    Sáng 26.11, anh R. gọi điện lại, vui mừng thông báo rằng cảnh sát Miri đã vào cuộc, ra lệnh người chủ phải trả lại hộ chiếu và giải quyết cho hai cô gái về nước trong vòng 3 ngày, bằng không họ sẽ “có hành động”. R. cũng cho hay người chủ và các thuộc hạ đã hằn học, hăm dọa, thậm chí đánh cô B. Họ dọa: “Khi mày về đến sân bay Việt Nam, tính mạng của mày tụi tao không bảo đảm”, anh R. kể.

    R. tiết lộ: “Đến nước này vợ em mới nói thật. Nó thật sự có ý định qua đó làm… kiếm tiền trong vòng 12 ngày. Không ngờ qua đó chứng kiến thực tế, thấy quá sợ. Nhưng muốn về thì đâu có dễ!”. (R. và B. xưng hô với nhau là “vợ”, “chồng”. Và phải chăng vì Brunei cho công dân Việt Nam lưu trú tối đa 14 ngày nên B. dự định “làm việc” 12 ngày thôi? - PV).

    Sáng 30.11, B. và cô bạn đi cùng lên máy bay từ Miri đi Kuala Lumpur, rồi từ đó bay thẳng về TP.HCM. Họ về đến nơi khoảng 7 giờ tối. Trưa 1.12, R. gọi điện và cho tôi biết anh đang đưa người yêu đi “tẩm bổ”, vì B. “ốm và xanh xao”. R. rối rít cảm ơn và nhờ tôi nói với phía đại sứ quán “xóa hết” các giấy tờ, bởi “lỗi chính là do vợ em”. “Vợ em nói nếu không có cảnh sát vào cuộc quyết liệt, rất có thể bên kia họ đã thủ tiêu vợ em để bịt đầu mối”, R. kể. Anh nói thêm nếu biết ai có ý định đi kiếm tiền bằng cách đó ở nước ngoài, “tụi em sẽ khuyên can”.

    Bị trục xuất

    Vợ em nói nếu không có cảnh sát vào cuộc quyết liệt, rất có thể bên kia họ đã thủ tiêu vợ em để bịt đầu mối

    Anh R., chồng chưa cưới của cô B


    Hằng ngày, trên các chuyến bay giá rẻ từ Singapore về TP.HCM và ngược lại, tôi gặp không ít cô gái Việt Nam bị trục xuất. Không biết tiếng Anh, nhìn cách ăn mặc khi vừa bước chân xuống máy bay và vào làm thủ tục nhập cảnh, hải quan sân bay Singapore lập tức đặt các cô vào diện nghi vấn, sau đó có thể trục xuất.

    Nhân viên sân bay lục xét và “lùa” các cô gái bị trả về ngay trước mặt hành khách khác. Khi hành khách lên máy bay thì các cô bị dẫn ngược lại khu vực làm thủ tục. Các cô là những người lên máy bay sau cùng, ngồi ở những hàng ghế trống sau cùng, cạnh nhà vệ sinh.

    Có lần chuyến bay từ Singapore về TP.HCM bị tạm hoãn 1 giờ, hành khách được cho ra khỏi máy bay thư giãn, chờ lên máy bay lại. Riêng có 3 cô gái bị một nữ an ninh canh giữ như tội phạm. Một cô vừa bấm điện thoại để gọi thì bị cô an ninh thu máy. Tôi thấy tức nên hỏi: “Tại sao chị thu máy của cô ta?”. Cô an ninh độp lại: “Đó không phải chuyện của cô”. Sau đó, các cô gái mới nói nhỏ cho tôi biết: “Tự nhiên tụi em mới qua, họ không cho nhập cảnh, đuổi về”.

    Bỏ mạng ở xứ người


    Một nữ an ninh sân bay Changi canh giữ 3 cô gái Việt Nam bị trục xuất - Ảnh: Thục Minh

    Tôi từng biết có ít nhất 3 cô gái Việt Nam bỏ mạng ở Singapore trong lúc “hành nghề”. Trong đó, 2 cô phục vụ quán karaoke, theo khách làng chơi về nhà họ “mua bán” và bỏ mạng tại nhà của khách. Trong khi khách “bình an vô sự” thì cha mẹ của các cô đau đớn, vay mượn để sang Singapore đem tro cốt của con về.

    Trường hợp thứ ba là cô Vũ Thị Hồng M., 31 tuổi, thiệt mạng hôm 17.9. M. cũng là “cư dân phố đèn đỏ”, rồi kết hôn với một người đàn ông Singapore lớn tuổi và thất nghiệp. Đẻ được một đứa con, người chồng giành nuôi, M. về Việt Nam, dăm ba tháng qua thăm chồng con vài ngày. 4 giờ sáng ngày 17.9, khi M. đang đứng nói chuyện điện thoại trước một tiệm karaoke ở khu đèn đỏ Geylang thì không may bị một taxi mất lái, tông chết ngay tại chỗ. Hôm sau, người chồng đem thi thể M. đi hỏa táng. Về nguyên tắc, người chồng được quyền định đoạt toàn bộ tiền đền bù cho cái chết của M.!

    Tại Malaysia, hồi tháng 7 năm nay, 6 cô gái Việt từ 18 - 30 tuổi trên đường đi từ bang Johor ở phía nam lên một thành phố ở phía bắc thì xe gặp tai nạn. 5 cô thiệt mạng, 1 cô bị thương. Hai người đàn ông đi cùng bị thương nhẹ. Báo chí và cảnh sát Malaysia nghi ngờ những người này nằm trong một đường dây buôn người.

    Thục Minh (VP Singapore)
     
  2. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,780
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    Dường như chức năng Search của diễn đàn khi chuyển sang Core mới không được như cũ thì phải ??????

    http://tuoitre.vn/PrintView.aspx?ArticleID=511788
    Ngày 17/09/2012, 06:35:00 (GMT+7)
    [SIZE=4]Từ anh xích lô đến nhà nhiếp ảnh[/SIZE]

    TT - Đêm trao giải cuộc thi ảnh Chiếc nón quê hương tối 15-9, Mai Lộc đi từ ngỡ ngàng đến hạnh phúc khi biết bức ảnh Nắng sớm của mình vượt qua hơn 3.000 bức ảnh để đoạt giải nhất.

    Trong buổi tiệc mừng, khi nói về mình, Mai Lộc vẫn mộc mạc, chân thành như thuở anh còn là một người đạp xích lô...

    Năm 1995, một cặp vợ chồng người Na Uy - ông Gunnar Simosen và bà Eva Mallquist Gunnar - du lịch đến Nha Trang. Gặp Mai Lộc, họ có cảm tình ngay với một chàng trai nghèo hành nghề đạp xích lô nhưng lúc nào cũng mang theo tài liệu tiếng Anh để học. Họ giúp đỡ tiền bạc, khuyên Mai Lộc nên tập trung học tiếng Anh vì sau này đất nước phát triển, người biết tiếng Anh sẽ có nhiều cơ hội hơn. Họ muốn thấy cuộc đời anh thay đổi bằng sự giúp đỡ đó.

    Chuyến du lịch kết thúc, tình cảm giữa hai bên vẫn được nuôi dưỡng, vun đắp. Năm 1997, khi Mai Lộc cưới vợ, ông Gunnar Simosen và bà Eva Mallquist Gunnar đích thân qua Việt Nam dự tiệc cưới. Quà cưới của đôi vợ chồng người Na Uy mà sau này Mai Lộc nhận là cha mẹ nuôi có một chiếc máy ảnh dùng năng lượng mặt trời. Đó là lần đầu tiên Mai Lộc biết đến chiếc máy ảnh.

    Mai Lộc nhớ từng chi tiết trong câu chuyện cảm động về sự chia sẻ nhiệt thành của ông Gunnar Simosen và bà Eva Mallquist Gunnar. Năm 1998, trước khi qua đời vì một tai nạn, ông Gunnar Simosen còn kịp ra ngân hàng gửi cho vợ chồng Mai Lộc 6.000 USD để giúp đỡ vốn liếng. Từ đó Mai Lộc mua được chiếc xe máy. Cộng với vốn tiếng Anh học được, Mai Lộc trở thành hướng dẫn viên du lịch cho những tour đường dài trên toàn quốc. Trong những chuyến đi như vậy, Mai Lộc bắt đầu học chụp ảnh.

    Năm 2003, khi bà Eva Mallquist Gunnar trở lại thăm, bà rất vui khi thấy cuộc đời Mai Lộc hoàn toàn thay đổi. Mai Lộc đã tặng bà một bức ảnh và bà mang về Na Uy. Điều anh không ngờ tới là bà Eva Mallquist Gunnar giới thiệu bức ảnh của anh cho các nhiếp ảnh gia Na Uy.

    Năm 2006, một triển lãm ảnh ở Na Uy đã mời Mai Lộc qua triển lãm. Đó cũng là cơ hội mà Mai Lộc có thể đến phần mộ ông Gunnar Simosen để thắp cho ông nén nhang ân tình. Bà Eva Mallquist Gunnar ân cần đến mức khi anh đứng trước đám đông diễn thuyết, bà luôn đứng bên cạnh để giúp anh tự tin. Một đài truyền hình Na Uy cũng đã làm một bộ phim về câu chuyện của anh.

    Giờ đây, những chuyến đưa khách đi tour du lịch, Mai Lộc luôn cầm theo chiếc máy ảnh. Anh đã trở thành một hướng dẫn viên và một “tay máy” từ sự gặp nhau của những tấm lòng tốt như vậy. Khi được hỏi bà Eva Mallquist Gunnar có trở lại Việt Nam nữa không, Mai Lộc trả lời: “Qua chứ... bà muốn qua xem cái gallery ảnh của tôi ở Nha Trang. Khi biết tôi mở gallery ảnh, bà vừa mừng vừa lo. Chắc bà sẽ sớm qua thôi!”.



    Tác phẩm Nắng sớm của Mai Lộc

    [​IMG]
    “Cơ hội chụp bức ảnh như vậy không còn nữa”

    Cuộc thi ảnh nghệ thuật Chiếc nón quê hương do Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh TP.HCM bảo trợ, phát động từ ngày 6-6 và đã nhận được 3.302 tác phẩm dự thi của 497 tác giả từ 34 tỉnh thành trên cả nước. Tác phẩm Nắng sớm của tác giả Mai Lộc (Khánh Hòa) được trao giải nhất. Giải nhì thuộc về tác phẩm Chung loại nón của Ngô Đức Cần (TP.HCM) và Nhịp điệu của Nguyễn Anh Tuấn (Kiên Giang). Các tác phẩm Hình bóng quê hương của Nguyễn Trung Kiên (An Giang), Trên cánh đồng trà của Nguyễn Văn Thương (Lâm Đồng), Ngày mới của Nguyễn Hữu Hài (Thừa Thiên - Huế) đồng giải ba. Ngoài ra, cuộc thi còn trao năm giải khuyến khích cho năm tác giả khác.

    Tác giả Mai Lộc chia sẻ tác phẩm Nắng sớm của anh chụp vào năm 2006 tại một làng chài gần cầu Trần Phú (TP Nha Trang). Mai Lộc nói giờ đây cơ hội chụp một bức ảnh như vậy không còn nữa vì cảnh vật đã đổi thay.


    QUANG THI


    Thầy ta dạy tây lướt ván diều

    TTCT - 26 tuổi, Cần là huấn luyện viên địa phương môn dù lượn quốc tế trẻ nhất Mũi Né. Từ những ngày đầu tiên của thiên đường resort, gió Mũi Né đã đưa chàng trai này đi xa hơn con đường mà anh mơ mộng rất nhiều.


    [​IMG]
    Cần (đầu tiên bên phải) trong những giờ huấn luyện lướt ván diều - Ảnh: Daria


    Cần “chocolate” đen nhẻm. Con trai miền biển luôn có làn da cháy giòn màu nắng biển khơi như vậy. Mái tóc bù xù thường tóa về phía trước mặt như rễ tre. Sóng tóc đã làm nụ cười trên gương mặt Cần trẻ trung như bay bổng và hồ hởi như sóng nước.

    Chàng phục vụ chơi lướt ván diều

    Năm 2004, Nguyễn Thanh Trung (bạn bè gọi anh là Cần “chocolate”) rụt rè nộp hồ sơ đi làm lễ tân ở một công ty du lịch. Không học cao, không ngoại ngữ, ước mơ ban đầu thi vào Đại học An ninh của Cần được anh gọi tên là “khó quá không với tới được”. Trong những bước chân đầu tiên vào thế giới du lịch, Cần nhìn thấy những chiếc diều tung mình lên không trung, những chàng trai phương Tây lái diều như lái gió, chân đạp sóng như thêu dệt, lả lướt chinh phục tự nhiên. Cần - trai biển, sống cả tuổi thơ với sóng biển cát vàng - lần đầu tiên biết rằng mình sinh ra để tim đập theo nhịp của sóng nước.


    Cần nhỏ con, mảnh khảnh. Cần khiêm nhường, nhẹ nhàng. Và Cần huấn luyện viên với mức giá 20 USD/giờ tại Mũi Né, đơn giản và kiêu hãnh như bất kỳ huấn luyện viên tóc vàng cao lớn nào khác tại thiên đường resort bây giờ.



    Cần bạo dạn bỏ hồ sơ làm lễ tân - công việc mà một người có trình độ thấp coi là ổn định - xin làm “trợ lý” cho huấn luyện viên dù lượn ở trung tâm huấn luyện thể thao nước Windchimes. Gọi tiếng Anh là “assistant” cho sang chứ việc của Cần khi đó là chạy theo du khách, giúp họ đeo thiết bị, gỡ dù, chăm sóc họ từng li từng tí, lương chỉ hơn 1 triệu đồng/tháng.

    Vào thời điểm đó, một giờ lướt ván diều có giá 50 USD, huấn luyện viên được hưởng 16 USD/giờ. Cần nhớ lại: “Sau một thời gian thì việc mình làm cũng không ít hơn bất kỳ huấn luyện viên nào, nhưng họ có bằng cấp quốc tế nên lương cao. Chứ có lúc mình phụ huấn luyện nhưng lương cũng chỉ như thế”.

    Cần dùng hết những giờ vắng khách, rảnh rỗi để nhờ các huấn luyện viên người Mỹ, Đức, Pháp... ở trung tâm chỉ cho hết những ngón nghề của môn thể thao đã giữ trọn cảm xúc và khao khát trẻ trung của anh. Cần mê mẩn tập. Cần đi từ những 5m, 10m, đến 20m đơn giản trên sóng. Cần phải học cách để con diều không rơi, cảm nhận từng cơn gió trên lưng và cánh tay mình. Cần dùng cánh tay trai trẻ và sức khỏe để “thuần hóa” dần những cơn sóng khi bản ván trượt nương mình theo con nước. Một tuần sau khi vào Windchimes, Cần biết đi lại trên nước bằng dù và ván.

    Gần một năm sau, lần đầu tiên Cần tung thân thể mình vào gió. Cần nắm được diều, quyến rũ được gió và tự tin làm chủ sóng. Những người chơi lướt ván diều ban đầu dễ dàng bị cuốn hút bởi cảm giác bay lên không trung, thật cao và đầy tự do. Cần vừa làm trợ lý, chăm sóc khách du lịch học chơi diều, vừa chăm chỉ nghĩ về những cú “trick” (những cú biểu diễn đặc biệt của vận động viên lướt ván diều).

    Hai năm sau, Cần bay trên không trung, đổi tay, lượn xoáy vòng không e ngại. Cần miêu tả: “Khi đã bay quen rồi thì mình không nhìn con diều nữa, chỉ cảm nhận thấy con diều đã bay đi đâu rồi, cả bàn chân của mình cũng đã có cảm giác đáp xuống thế nào rồi. Không nhìn cả diều và bàn chân, mình chỉ tập trung vào cú trick mình sắp biểu diễn” - Cần sung sướng với cảm giác những vị khách Tây nhìn mãi theo cái thân thể bé nhỏ của mình nương bay theo gió. Cần thích nhìn họ hướng máy ảnh bấm liên tục khi anh biểu diễn. Khi đó, là một “trợ lý” - hay người phục vụ, Cần đã chơi lướt ván diều điệu nghệ không thua bất kỳ ông thầy nào của mình trong trường Windchimes.

    ...Đến huấn luyện viên quốc tế trẻ nhất Mũi Né

    Có một ông giáo sư người Mỹ gốc Việt về Mũi Né chơi lướt ván diều và lưu trú một thời gian dài ở Windchimes. Học hết một chương trình năm giờ dành cho người mới chơi, ông thầy già hỏi Cần nên mua một bộ đồ rồi tập chơi hay đóng tiền tập chơi tiếp. Cần bảo: “Bố mua bộ đồ xài lại, chơi sẽ rẻ hơn nhiều, bố mua đi rồi con chỉ bố từ từ chơi”. Đổi lại, ông già hỏi Cần thích gì. Cần bảo: “Bố chỉ con tiếng Anh đi!”.

    Ông giáo sư tên Nam. Hằng ngày, 9g sáng hai thầy trò vác ván diều ra biển. Gió chưa lên thì học tiếng Anh. Gió lên thì thầy trò ra tập lướt ván. Có những lúc giờ học tiếng Anh kéo dài đến ba, bốn giờ vì gió... không chịu lên. Có lúc Cần và ông già tập từ sớm vì gió lên sớm. Tiếng Anh và gió Mũi Né nối hai thầy trò với nhau. Chỉ ba tháng, Cần đen nhẻm gió biển từ quê mùa tiếng Anh bồi chững chạc hẳn với câu cú đâu ra đó, chỉn chu gọn gàng. Vừa học lướt ván diều, Cần vừa thực tập nói tiếng Anh với “bố”.


    Cần “chocolate” chính thức trở thành huấn luyện viên quốc tế cấp độ 1 vào ngày 8-3-2007, trong đợt tập huấn và thi chứng chỉ đầu tiên của Trường C2Sky tại Mũi Né, Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

    Hiện nay Cần là điều phối viên thể thao tại trung tâm thể thao nước của resort 5 sao Princess d’Annam tại huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

    Trước khi về Mỹ, ông già dặn Cần phải tiếp tục xem phim Mỹ, tập nghe từng câu từng từ, nghe nhạc tiếng Anh, luyện nói mỗi ngày. “Bố bảo mình đừng mắc cỡ, nói không đúng thì người ta sẽ biết mà chỉ lại cho mình”. Cần nhớ lời ông dạy, không ngờ chỉ một thời gian ngắn sau đó, tiếng Anh và trò chơi lướt ván diều của hai thầy trò ngày nào trở thành sự nghiệp thật sự của Cần.

    “Tụi mình làm trợ lý cũng làm nhiều y như huấn luyện viên mà chỉ được 1,5 triệu đồng/tháng. Tụi mình chỉ nghĩ làm cách nào kiếm được nhiều tiền như huấn luyện viên, 16 USD/giờ, năm đó”.

    Khi chương trình huấn luyện và thi chứng chỉ huấn luyện viên lướt ván diều quốc tế IKO (International Kiteboarding Organization) được một người Úc đưa đến Việt Nam, mở đường cho những huấn luyện viên địa phương được đào tạo theo chuẩn quốc tế, Cần và bốn người bạn Việt Nam của anh đã quyết sẽ đi thi, quyết có một cái bằng để hành nghề chuyên nghiệp.

    Năm 2007, 1.000 USD không phải số tiền nhỏ với Cần - trợ lý dù lượn, con một gia đình rất bình thường ở Phan Thiết. Cần thuyết phục mẹ bằng những đêm thao thức, những lo lắng và trăn trở, và cầm trong tay 400 USD mà mẹ anh bấm bụng liều mình theo suy nghĩ thằng con trai mới lớn của bà. Windchimes và những người anh huấn luyện viên cho Cần mượn phần còn lại.

    Lần đầu tiên Cần học cách làm quen với khách du lịch, kiểm tra sức khỏe, xem họ có tiền sử bệnh tim, đang có thai, hay có vấn đề nghiêm trọng nào không. Cần được chỉ dẫn cách đưa học viên của mình vào bài học, làm quen với thiết bị. Khi nào bầu trời có gió tốt, khi nào gió tốt báo hiệu thảm họa, khi nào trời đẹp cho một cuộc chơi... 1.000 USD là cánh cửa mở ra một thế giới hoàn toàn khác hẳn với nhận thức của Cần mỗi khi cưỡi sóng và tung mình lên không với diều. Cần nhớ lại: “Lúc bắt đầu vô thi thấy hơi uổng tiền, mình không đậu thì uổng quá, làm bao nhiêu mới trả nợ được?”.

    Tất cả những dòng ký ức ấy chính là thép đã tạo nên một Cần “chocolate” bây giờ, tự tin bay lên với gió, tự tin cưỡi sóng, tự tin đón những “học trò” cao gấp hai, ba lần mình và xì xồ tiếng Tây luôn miệng. “Sau khi có bằng, có tháng cao điểm mình kiếm đến hơn 2.000 USD. Mùa bình thường có khi vài trăm USD, tất nhiên những tháng vắng khách có khi chỉ... 100 USD”.

    Năm 2008, Cần về Hàm Tiến, chính thức đầu quân cho resort 5 sao Princess d’Annam, phụ trách bộ phận thể thao nước và huấn luyện viên lướt ván diều tại đây. Cần so đo: “Mình thích ở Mũi Né với anh em, có những chiều uống chai bia và cùng tập những trick mới, những cú lượn đẹp và cùng chia sẻ mọi thứ. Nhưng khi hết tập rồi thì sao? Sự nghiệp mình chưa có gì cả. Mình phải bắt đầu một cái gì bền vững hơn”.

    Hàm Tiến thì buồn, Cần chỉ có một mình với sóng nước. Cần phải chăm chút đi về với những bộ phận như hồ bơi, ván diều, thuyền buồm... Nhưng chính ở đây Cần tìm thấy những đam mê của mình đang thành hiện thực, anh vẫn tự do chơi lướt ván, tự do nghĩ ngợi và mê mải với những thử thách mới trong nghề thể thao nước. Ở đấy, Cần học làm thuyền trưởng, học lướt ván buồm, chơi thêm một vài môn.

    Cần 26 tuổi, vừa lập gia đình và có một con nhỏ. Cần vẫn nhớ những chai bia bên bờ biển hay những buổi chiều say nụ cười của mấy cô gái Nga xinh đẹp ở “làng Nga” Hàm Tiến. Nhưng với lướt ván diều, Cần sẽ đi xa hơn với chặng đường mới, mê thể thao, có gia đình an bình và làm tự hào đấng sinh thành đã dám dúi vào tay anh 400 USD trong những ngày khó khăn khi mới vào nghề.

    Cần là hình ảnh rất đơn giản của một người địa phương - có thể kiếm sống và sung túc trên chính sóng biển quê hương của mình bằng những nỗ lực tự thân và bền bỉ...

    LAN PHƯƠNG
    http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tua.../386528/Thay-ta-day-tay-luót-ván-dièu.html
     
    Last edited: Jun 28, 2013
  3. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,780
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    Từ khi chuyển sang nền táng kỹ thật mới của forum, việc tìm kiếm và post bài khó khăn hơn nhiều và nhiều khi không tìm thấy. Để post thread mới thì nhiều khi gặp lỗi về kỹ thuật và không ổn định, lúc hiện lên, lúc ông không. [SOLVED] Định để hẳn ra một thread riêng để cảnh báo mọi người mà không được nên đành đưa tạm vào đây.

    Tôi nghĩ sự khác biệt về văn hóa, sự thiếu hiểu biết về luật pháp, quy tắc hành xử ở môi trường mới , sự thiếu sót của chương trình đào tạo ban đầu của cơ sở giáo dục tiếp nhận, và sâu xa là môi trường giáo dục , xã hội " quá độ " sống sít ( chữ của Nguyễn Duy ) ở Việt Nam cũng góp phần đóng góp làm cho các bạn trẻ xử sự thiếu giáo dục thế này ( có thể hành động đấy ở Hà Nôi Sài Gòn nếu có đã từng không được/ bị lên án và xử mạnh tay, làm tiếng chuông cảnh báo nhiều người. Hy vọng bài học đắt giá này sẽ được nhiều người tự điều chỉnh mình ???

    BBC Vietnamese: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/01/130116_viet_student_singapore.shtml

    Sinh viên VN ở Singapore bị tội sàm sỡ
    Cập nhật: 06:50 GMT - thứ tư, 16 tháng 1, 2013


    Một sinh viên Việt Nam ở Singapore vừa bị tòa truy tố tội sàm sỡ trong nhà vệ sinh ở ký túc xá.

    Sinh viên này bị buộc tội đã sờ soạng một cô gái 19 tuổi trong nhà vệ sinh ở ký túc trường Công nghệ Nanyang, theo báo Straits Times.

    Sự việc này xảy ra hồi tháng Chín năm ngoái.

    Nguyễn Minh Dũng, cũng 19 tuổi, bị tố cáo đã luồn tay vào dưới váy của cô gái và sờ mông cô này ba lần, miệng nói rằng cô này có "bộ mông rất đẹp".

    Straits Times cho hay việc sàm sỡ này bị cáo buộc đã xảy ra trong nhà vệ sinh nam của ký túc xá, vào khoảng 4:30 chiều ngày 14/9/2012.

    Người sinh viên Việt Nam đã nộp khoản tiền bảo lãnh 6.000 đôla Singapore để tại ngoại.

    Anh ta sẽ phải ra tòa lần nữa vào ngày 13/2 tới. Nếu bị xử là có tội, sinh viên này có thể phải chịu án tù lên tới hai năm, bị phạt tiền, đánh roi hoặc bị một án phạt tổng hợp nhiều hình thức.

    Singapore là nơi có luật lệ thuộc loại nghiêm khắc trong khu vực Đông Nam Á.


    http://www.pagewash.com/nph-index.c...fvau-ivra-ivrg-anz-b-fvatncber-ov-gbv-fnz-fb/


    http://www.straitstimes.com/breakin.../viet-student-charged-molesting-girl-20130116

    The Straits Times
    www.straitstimes.com
    Published on Jan 16, 2013 (hãy nhìn số người share tin này trên Facebook & Tweet?

    Vietnamese student chargền Faced with molesting girl

    By Elena Chong


    An undergraduate was charged on Wednesday with molesting a 19-year-old girl at a hostel toilet of Nanyang Technological University last September.

    Nguyen Minh Dung, 19, a Vietnamese national, is alleged to have put his hand under the girl's skirt and touched her buttocks three times, saying that she had a "nice butt''.

    The alleged offence took place in a male toilet of the hostel at about 4.30pm on Sept 14 last year.

    Bail of $6,000 was offered. He will appear in court again on Feb 13. If convicted of outrage of modesty, he could be jailed for up to two years, fined, caned or receive a combination of the sentences.
     
    Last edited by a moderator: Jan 24, 2013
  4. AlphaStylist

    AlphaStylist Member MBA Family

    Joined:
    Jan 16, 2012
    Messages:
    190
    Likes Received:
    2
    Trophy Points:
    18
    Current city/country:
    Hanoi
    Current employer/school:
    Maybank Kim Eng Securities
    Undergrad major:
    Economics
    MBA (intent) major/School:
    Finance
    Thế này thì em cũng dễ bị truy tố lắm. Giả dụ cô gái ấy đồng ý vào toilet nam với em, hí hí thôi em xấu hổ lắm không dám tưởng tượng tiếp đâu.

    Nguy hiểm thật.
     
  5. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,780
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    Xin khẳng định là vấn đê còn nguyên vẹn , chưa được giải quyết - ít nhất khi khi muốn bắt đầu một thread mới ở mục này:
    http://www.vietmba.com/forum/forumdisplay.php?f=30

    Tôi đã vào bằng cả 3 trình duyệt mà kết quả đều giống nhau.. Nhờ admin post hộ luôn?

    http://www.pagewash.com//////nph-in...e4y2fTsbqjxjsOoX/fgbel.ugzy=3frirag=3drirag12

    The joy of re-reading
    By Joan Wickersham


    January 25, 2013


    When I was 18, I became friends with a writer who was in his early 30s, and I asked him one day what he was reading. “Actually,” he said, “I’ve gotten to the stage where I’ve started re-reading.” Oh, dear, I thought, I guess he’s run out of books. I felt a little sorry for him, and also alarmed by the notion that maybe there were only enough good books in the world to occupy me for another dozen years or so. Was my friend hinting that there comes a point when we’re all stuck with reruns?

    Now, more than three decades later, I know what he meant. You never run out of good books, but as much fun as it is to discover something new, one of life’s great joys is re-reading: going back to a book for the second or third or fifth time, and seeing how it has deepened and expanded since your last visit.

    The first time you read “Great Expectations,” you read for plot. What is going to happen next? Who is Pip’s mysterious benefactor? Will Estella, the cold-hearted girl he loves, ever soften enough to marry him? How will Dickens weave the many threads together, and what will the carpet look like when he is finished? The second time you read it, you’ve already seen the overall pattern of the carpet. You understand that this is a novel about self-delusion. You are aware of Pip’s flaws as a narrator. You can trust him to tell you what happens, but not when he tries to tell you what it all means. You understand that this is a book about getting things wrong — and that in describing so precisely how we get things wrong, Dickens gets it exactly right.

    The first time you read “Ethan Frome,” you’re bored. You’re probably 15, and reading the novel in a high-school English class. The teacher assigned it because it was short. Snow, ice, and a bunch of crabby New Englanders who don’t talk much. To make things worse, it starts with a scene between characters who turn out not to matter, which makes you want to throw the book out the window (the same window through which you’ll want to toss “Madame Bovary,” “Wuthering Heights,” and “My Antonia”).

    But if you pick up “Ethan Frome” again 20 years later, you’ll be amazed at how much passion and compassion Edith Wharton was able to pack between the lines of that spare book. Its form perfectly matches its subject; it’s a taciturn novel about taciturn people, about deep feelings that can’t be put into words. It becomes a different book upon re-reading, once you’ve lived enough to understand the things that can’t be said. As the narrator says in the first chapter before he disappears from the book, “The deeper meaning of the story was in the gaps.”

    The first time you read “Middlemarch,” most likely in college, you think it’s a book about other people. You would never steer your life in the wrong direction, like George Eliot’s sympathetic but misguided characters: Dorothea, who marries a man she thinks is a genius only to learn he’s a selfish, suspicious, shriveled-up pedant; Lydgate, the idealistic young doctor who falls for a narcissistic airhead; Fred, who keeps throwing money around even though the girl he desperately loves will marry him only if he stops throwing money around. They all start out with dreams and ambitions; life disappoints them and they disappoint themselves. Poor fools, you think.

    When you read the book again — say in your 30s — you have a somewhat sickening fear that it’s a book about you. You haven’t made the same mistakes as George Eliot’s characters, but you’ve made different mistakes. You’ve had your own disappointments. Career plans that didn’t work out. Romantic missteps. Secrets you’ve kept, with disastrous results; secrets blurted out, equally disastrous. You’re still here, but you’re humbler, less lustrous. In short, you’ve lived.

    And the more you go on living, the more prepared you will be to re-read “Middlemarch” yet again. This time you will realize that it isn’t a book about other people and it isn’t a book about you. It’s about all of us. In fact, it’s the broadest, most dimensional, most dispassionate, and most loving human panorama ever written. I reread it about a year ago, with a 77-year-old friend who was also re-reading. Almost every morning we would call each other to gossip about the inhabitants of Middlemarch, what they were up to and why. George Eliot’s town had become our town.

    Re-reading never gets old. The books change because we change. The great books get greater as we understand them better: reading them over and over, and knowing that we will never be finished.
    Get two weeks of FREE unlimited access to BostonGlobe.com. No credit card required. Joan Wickersham’s column appears regularly in the Globe. Her latest book is “The News From Spain: Seven Variations on a Love Story.’’
     
  6. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,780
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    Văn chương dạy chúng ta điều gì?
    Lý Lan

    Theo mấy nghiên cứu gần đây thì việc đọc sách văn học khiến cho người ta thông minh hơn, giàu tình cảm hơn, và văn minh hơn. Báo New York Times bèn đặt cho một số nhà văn và học giả câu hỏi: “Văn chương dạy chúng ta điều gì về tình yêu?”
    Trong những câu trả lời được tuyển đăng ngày 6/2/2014, tôi tán thành ý kiến của nhà văn Ann Patchett.

    Tạm dịch:

    Năm 21 tuổi tôi đọc “Anna Karenina”. Tôi thấy Anna và Vronsky đúng là bạn tâm giao. Họ rất yêu nhau và do đó phải được ở bên nhau. Tôi cho là Karenin độc ác và áp bức vợ khiến cho số phận của nàng không được thỏa đáng. Còn Levin và Kitty và những người nông dân làm tôi phát chán. Tôi đọc những phần đó rất nhanh.

    Năm ngoái, tôi tới tuổi 49, và tôi đã đọc lại cuốn sách. Lần này, tôi yêu Levin và Kitty. Tôi yêu tình tiết này: sau khi chị từ chối lời cầu hôn của anh, anh chờ đợi một thời gian dài cho nỗi đau của mình nguôi ngoai rồi lại cầu hôn chị một lần nữa. Tôi thích chi tiết chị đã trưởng thành trong thời gian đó và giờ đây cảm thấy có phước khi có được cơ hội thứ hai. Còn Anna và Vronsky trở nên chán phèo. Tôi cảm thấy nàng Anna ích kỷ và nhõng nhẽo. Tình cảm của tôi thiên về chàng Karenin đáng thương, một người đàn ông đã cố gắng làm người tử tế.

    Văn học đã dạy tôi điều gì về tình yêu? Văn học (cùng với kinh nghiệm) đã dạy tôi rằng tình yêu là những thứ khác nhau ở những thời điểm khác nhau trong cuộc đời của chúng ta, và khi già đi chúng ta thường thiên về những câu chuyện hiền lành hơn, tĩnh lặng hơn, và nhận ra chúng phong phú hơn lúc ban đầu mình tưởng.

    ANN PATCHETT: When I was 21 I read “Anna Karenina.” I thought Anna and Vronsky were soul mates. They were deeply in love and therefore had to be together. I found Karenin cruel and oppressive for keeping his wife from her destiny. Levin and Kitty and the peasants bored me. I read those parts quickly.

    Last year I turned 49, and I read the book again. This time, I loved Levin and Kitty. I loved the fact that after she declined his proposal he waited for a long time to mend his hurt feelings and then asked her again. I loved that she had grown up in the interim and now felt grateful for a second chance. Anna and Vronsky bored me. I thought Anna was selfish and shrill. My heart went out to poor Karenin, who tried to be decent.

    What has literature taught me about love? Literature (along with experience) has taught me that love means different things at different points in our lives, and that often as we get older we gravitate toward the quieter, kinder plotlines, and find them to be richer than we had originally understood them to be.

    Ann Patchett’s most recent book is “This Is the Story of a Happy Marriage.”

    http://www.nytimes.com/2014/02/09/books/review/a-sentimental-education.html
    SUNDAY BOOK REVIEW | ROUNDUP

    A Sentimental Education
    FEB. 6, 2014


    Recent studies suggest that reading literature may make us smarter and more empathic, even more civic-minded. But what can literature tell us about love? Writers in a variety of genres share the books that taught them about love — and a few that led them memorably astray.

    HILARY MANTEL: From Chamfort, the revolutionary aphorist, I learned that love is “nothing more than the exchange of two fantasies and the superficial contact of two bodies.” From Dorothy Parker, that “love is a thing that can never go wrong; / And I am Marie of Roumania.” From Thomas Hardy, that it is dangerous and may hang you. From Thomas Wyatt, to use the word seldom or keep it off the page. Numerous authors have taught me that it comes expensive, and the bill is sent in when the article is worn out: “Flames for a year, ashes for 30,” Lampedusa says. All this reading has made me notice that what is done in the name of love often looks like subtle and misdirected revenge. But from Virgil I have learned it beats all. “Omnia vincit Amor,” he claims, and it really does.

    Hilary Mantel’s most recent novel is “Bring Up the Bodies,” winner of the 2012 Man Booker Prize.

    GARY SHTEYNGART: I read “The Adventures of Tom Sawyer” as a 9-year-old and fell in love for the first time. Her name was Becky Thatcher. She was the judge’s daughter, so prim, aristocratic and cute. Tom Sawyer may have first worshiped her “with furtive eye,” but I fell unabashedly in love with the American princess when I saw an illustration of her in a “white summer frock and embroidered pantalettes” throwing a pansy into the air. Only it wasn’t a pansy Becky was throwing, it was a flower called “anyutini glazki,” because I was reading a yellowing Soviet edition my family had brought over from Leningrad. As a young immigrant, I could hardly handle Twain in the original English. The journey to writing about love would first entail falling in love with a language that was not my own. But in whatever language, the image of a girl throwing a flower in the air as a besotted boy looked on, the feeling of budding but frustrated desire, stayed with me and became one of the themes of my fiction. My kingdom for a pansy.

    Gary Shteyngart’s most recent book is “Little Failure: A Memoir.”

    NATASHA TRETHEWEY: I remember visiting my father and stepmother one summer and pulling from a shelf a copy of Marilynne Robinson’s novel “Housekeeping.” I found its margins full of annotations, and as I began to read I realized they were in two different hands and made up a conversation between my father and stepmother. They’d been reading the book, perhaps sharing it over some period of time, and responding not only to the story but also to each other. It was the kind of thoughtful conversation you have with someone who loves books as much as you do, who will argue about them, who will underline elegant sentences to make you take note of them again and again. At 19, I thought this was the most romantic thing I’d ever seen. I began to understand that love wasn’t just the deeply passionate and troubled relationship between Heathcliff and Cathy in “Wuthering Heights” — a book I’d loved since I was a child. I began to understand that literature is love — a way to connect with others not only across time and space but also in the here and now. Literature teaches us to understand, in the most intimate way, the experiences and interior lives of others — which, of course, reveals us to ourselves. As Robert Penn Warren wrote, “What is love? / One name for it is knowledge.”


    Natasha Trethewey is the poet laureate of the United States and a professor of creative writing at Emory University.

    Photo

    Credit Monika Aichele
    ANN PATCHETT: When I was 21 I read “Anna Karenina.” I thought Anna and Vronsky were soul mates. They were deeply in love and therefore had to be together. I found Karenin cruel and oppressive for keeping his wife from her destiny. Levin and Kitty and the peasants bored me. I read those parts quickly.

    Last year I turned 49, and I read the book again. This time, I loved Levin and Kitty. I loved the fact that after she declined his proposal he waited for a long time to mend his hurt feelings and then asked her again. I loved that she had grown up in the interim and now felt grateful for a second chance. Anna and Vronsky bored me. I thought Anna was selfish and shrill. My heart went out to poor Karenin, who tried to be decent.

    What has literature taught me about love? Literature (along with experience) has taught me that love means different things at different points in our lives, and that often as we get older we gravitate toward the quieter, kinder plotlines, and find them to be richer than we had originally understood them to be.

    Ann Patchett’s most recent book is “This Is the Story of a Happy Marriage.”

    COLM TOIBIN: I don’t read fiction or poetry to learn; nonetheless, it often happens as though by implication. Teaching us is one of literature’s afterthoughts; it is fiction’s bored sigh. Thus I have learned, or half-learned, that love is often just one way of putting something much more complex, and that, in turn, language is revenge on easy or false or lazy feeling. Often in fiction, people make choices in love that are very foolish; the drama comes from this. But there are times when words don’t matter, and books even less, and these are maybe the best times, such as when you turn in the night and find that someone you — what is the word? — love? desire? feel warm with? turns with you by a mixture of pure magic and sweet will, and then you both fall into a lovely literatureless sleep.

    Colm Toibin is a professor of the humanities at Columbia University. His most recent book is “The Testament of Mary.”

    Credit Monika Aichele

    HELEN FIELDING: Romantic literary fiction has taught me that happy endings are all about where you stop the story, and that — particularly with my role model Jane Austen — getting to the happy ending is much more interesting than writing about married bliss.

    With Austen, the journey to the happy ending is all about the hero and heroine defining their views on life and society to each other, and refining their behavior and perceptions to the point where they decide to go for it. Fiction requires drama, and drama requires conflict and change. Even if the novel is apparently skimming along with fun and romance on the surface, it’s the drama and conflict underneath that make the reader turn the page.

    The novels I find really fascinating on relationships after marriage — “Madame Bovary” for example, “Anna Karenina,” “The Age of Innocence” — really get down and dirty on the internal and external conflicts. But as a writer, I’m a fan of the happy ending. Readers don’t get to choose where to stop the story in life, so why not add to the general store of happiness by choosing a happy point to end your novel?


    Helen Fielding’s latest novel is “Bridget Jones: Mad About the Boy.”

    SCOTT SPENCER: By the time of my seventh birthday, my pursuit of happiness was driven by appalling delusions about romantic love, and the girls who would make it possible. Girls to hold hands with, write notes to, girls to kiss. I listened to popular songs as if the lyrics were instructions and watched Hollywood romances as if they were documentaries. I didn’t read superhero comics — I read romance comics, the same ones Roy Lichtenstein turned into scathing sendups of our lovesick culture. Eventually, literature, an antidote to the pretty poison of pop culture, came to my rescue. Literature, written for the most part by people in pain and in solitude, for people in pain and in solitude, was (and remains) the warning tap on the shoulder, when the mind has drifted into derangement, and when, in Woody Allen’s justly mocked quoting of Emily Dickinson, “the heart wants what it wants.” It’s vital to be reminded of love’s price and its limits, which is the beautiful, astringent wisdom of Jean Rhys, James M. Cain, Nabokov, Chekhov, Chandler and so many other great cartographers of passion’s many paths. Literature, rarely the home of happy endings, is where we readers acknowledge the peril and impermanence of love, where the caress of an artist’s imagination is as transporting as imagining a caress.

    Scott Spencer is the author of 10 novels, including “Endless Love.”

    EILEEN MYLES: Literature is love. I think it went like this: drawings in the cave, sounds in the cave, songs in the cave, songs about us. Later, stories about us. Part of what we always did was have sex and fight about it and break each other’s hearts. I guess there’s other kinds of love too. Great friendships. Working together. But poetry and novels are lists of our devotions. We love the feel of making the marks as the feelings are rising and falling. Living in literature and love is the best thing there is. You’re always home.

    Eileen Myles is the author of “Inferno: A Poet’s Novel.”

    CHRIS WARE: As a 20-something art student, I was a skittish Lothario, wondering what kept going wrong when that initial, tingly “magic” started to fade in the few relationships I’d managed to engineer (always a challenge for any cartoonist). You know: the uncomfortable silences. “Needing more time alone.” The touch of affection that hinted at aggression. I felt like an evolutionary failure, the broken twig at the end of a shriveled DNA branch. When was I going to find the love that lasted forever?

    Literature is not, and should not be, an instruction manual for life. But Tolstoy came perilously close with his novella “Family Happiness,” which details the flirtatious courtship, giddy marriage and near dissolution of one couple — and finally the beginning of their real love together. Within this blunt, beautiful and moving story lies one of the truths (and, thus, secrets) of life and maturity.

    Not unlike his later “Anna Karenina” (or to stretch things, even Ingmar Bergman’s 1973 “Scenes From a Marriage,” which for its frank dissection of the withering of intimacy ostensibly inspired divorces all over Scandinavia), Tolstoy’s story posits something maybe just as radical: “Each time of life has its own kind of love. . . . Let us be thankful that there is an end of the old emotions and excitements.”


    Chris Ware is the author of “Building Stories.”

    Credit Monika Aichele

    MARY BLY: In the literature of love, “Romeo and Juliet” is like an active volcano spewing a torrent of passionate imitations. As a romance novelist who also happens to be a Shakespeare scholar, I never tried to avoid its alluring glitter; indeed, I learned most of what I know about the rhythm of love scenes from it.

    As the play opens, Romeo is transfixed by his ability to play with language and desperately looking for an object of devotion. He greets Juliet with the first line of a quatrain — “If I profane with my unworthiest hand” — and the two proceed to build a sonnet together, first alternating stanzas, then lines. As Juliet conforms to Romeo’s rhyme scheme, the subject veers from chaste devotion to passion. They must listen intently in order to construct shared rhymes, and Shakespeare punctuates their final couplet with a kiss.

    In “Once Upon a Tower,” my most recent romance novel, I gave my naïve newlyweds several Romeoesque and Juliet-like attributes: They are very young, very poetic and very virginal. They declaim their emotions without waiting for a response, and have terrible sex — until they finally learn to share a conversation and, thereafter, a happy bed.

    Shakespeare’s lovers begin a new sonnet, cut short when Juliet’s nurse tugs her away. Their tragedy is inscribed in that broken poem. But I write romance, and the genre does not admit tragedy. I trimmed my text at the couplet, and hence my pair can grow older and wiser — able to rhyme, and to live, happily ever after.

    Mary Bly is a professor of English literature at Fordham University. As Eloisa James, she is the author of nearly 20 New York Times best sellers.

    CHARLES BAXTER: What literature teaches us about love is so multifarious as to be self-canceling. Shakespeare, for example, tells us that love is comical (“As You Like It”), passionate (“Romeo and Juliet”), disgusting (“Troilus and Cressida”), ennobling (“Antony and Cleopatra”), and is probably the most significant part of a young person’s sentimental education (the sonnets) even when it degrades the one who loves, as it usually does. Ovid assumes that everyone wants to love and to be loved (“Ars Amatoria”) and then to get free of the whole mess (“Remedia Amoris”). In Wagner’s version of the Nibelungenlied, Alberich the dwarf gains power by renouncing love. You get out of the game, you achieve mastery of an undesirable variety. But, as the musical comedian Anna Russell once observed, Alberich wasn’t going to get any love anyway, so he might as well renounce it.

    Love is therefore a MacGuffin: It has no meaning of its own but gives a particular meaning to every situation. Anything you say about it is probably true, and the opposite will also be true. It’s beautiful and destructive in “The Iliad,” fecund and creative in the “Vigil of Venus,” plain stupid and scary (“Madame Bovary”). Love serves as the locus for sentimentality and domestic piety. In its name, terrible things are said.


    One thing’s for sure: As a force, it changes people into fools. Or royalty. Or: It doesn’t change people. Take your pick.

    Charles Baxter’s latest book is “Gryphon: New and Selected Stories.”

    Credit Monika Aichele

    NIKKY FINNEY: Lorraine Hansberry was married, but what she wanted to be was in love. In 1957, she wrote to The Ladder, a wildcat lesbian magazine, saying, “I’m glad as heck that you exist.” Transported by the “insistent penetration of autumn sunlight” and drawn to the extraterrestrial light of being in love was who Lorraine Hansberry was. In another letter, she writes, “I feel I am learning how to think all over again.” Her book “To Be Young, Gifted and Black” was published after she died in 1965, at the age of 34. On every page churns her plucky devotion to her wholeness — and my nine-word inheritance: “I am a writer. I am going to write.” The book was a love letter from Lorraine to me at 15. For 40 years I have opened and closed it, whispering back responses to her insurgent wisdom to keep reaching for the being in love as much as the love. No clear path to my writing life or to my love for women with their mauve, sun-filled ways could ever have existed without this intimate treasure of how to listen out for, then launch into, one’s own genuine sea — for better or for worse.

    Nikky Finney’s most recent poetry collection, “Head Off & Split,” won the National Book Award for poetry in 2011. She teaches creative writing at the University of South Carolina.

    ADELLE WALDMAN: Growing up in America after the 1960s — in a time when words like wisdom tend to appear only in scare quotes — one absorbs the view that love is something inexplicable and mysterious, something that just happens. This didn’t serve me especially well. When, at 21, I discovered the 19th-century novel, with its rich emphasis on character, I was surprised to find that I actually learned far more than I had from the received attitudes of the moment. I couldn’t help noticing, for example, that George Eliot’s and Jane Austen’s protagonists aren’t granted their heroic status on the basis of good looks or pluck or even mere niceness. Rather, they have in common a commitment to fair-mindedness — this links even characters who seem radically different, like bossy Emma Woodhouse and timorous Fanny Price. Their capacity for genuine — and often uncomfortable — moral reflection and self-criticism distinguishes them and contributes so much to their appeal, to readers as well as to their fictional admirers. It is also something they seek, sometimes unconsciously, in a partner. This was a new idea for me: At 21, I tended to be drawn to men based on such deep qualities as longish hair, playing in a band and a penchant for Chomsky.

    Adelle Waldman is the author of “The Love Affairs of Nathaniel P.”

    KHALED HOSSEINI: I will stop short of saying that literature has taught me this, but I can say that I have found this fundamental truth about life reflected in virtually every novel, short story or poem I have read. Namely that love, in all of its myriad shades, is at the core of human existence and all human pursuit, be it love of self, God, money, family, sex, power, liberty, country, etc. From Shakespeare to Toni Morrison, every great piece of literature can at some level be distilled down to this one essential aspect of human experience.

    Continue reading the main story
    Khaled Hosseini is the best-selling author of “And the Mountains Echoed,” “A Thousand Splendid Suns” and “The Kite Runner,” and serves as a United Nations good-will envoy.

    SUSAN MALLERY: The summer I turned 15, I stumbled upon Paul Scott’s “The Raj Quartet” while wandering the stacks at the library. My family was going on a road trip, and this four-volume set was something I could savor all the way from Los Angeles to Mount Rushmore. And if it was good, I could read it again on the way home. (It was. I did.)

    The first book, “The Jewel in the Crown,” swept me into a world of danger, passion and romance. At a time in my life when I went to bed each night wishing for a boyfriend, the book taught me that although love may come when it’s least convenient, it’s a force one cannot resist, and it’s always worth the tumult. Love blurs the lines of color and culture, and in the blurring it changes us, first as individuals and then as a society. Love is worth any sacrifice.

    Susan Mallery is the author, most recently, of “Evening Stars.”

    DINAW MENGESTU: I was never into love poems, even as a young man prone to writing long, lyrical letters to girlfriends, or potential girlfriends, which was more often the case. The declarations of adoration, in any writer’s hand, struck me as overbearing and bordering on the sentimental. Perhaps it was inevitable that the love poem that has stayed with me the longest has to do with its inadequacy. William Carlos Williams’s “Asphodel, That Greeny Flower,” written to his wife of 40 years, is an apology, a plea for forgiveness for his failures as a husband. My favorite lines — “Let me, for I know / you take it hard, / with good reason, / give the steps / if it may be / by which you shall mount, / again to think well / of me” — are embedded with that oxymoronic blend of love’s harsh reality (it is where we fail the hardest) and the grace (it is where we are forgiven and are at our best) that comes with it.

    Dinaw Mengestu’s new novel, “All Our Names,” will be published in March.

    DAVID LEVITHAN: I read Francesca Lia Block’s “Weetzie Bat” as a young adult, and it changed both my writing life and the life I was writing for myself. The book is a fairy tale and reality crashed together. The characters Dirk and Duck gave me something I’d never experienced in a book before: a complicated and fierce connection between two young men that ran deeper than romance and wider than history. The perfect distillation of their love comes in a single line. Duck has run away, and as Dirk searches for him he thinks, over and over, “You are my blood.” I took that in, and I cried. Because they had such an elemental love. Because it hurt them so much. Because I was learning that the thing about love isn’t just that it can make you happy; it’s that it can make you so happy and so sad at the same time. Love is never just one thing. It’s always a fairy tale and reality crashed together.

    David Levithan is the author of many young adult novels, including “Two Boys Kissing.”

    Continue reading the main storyContinue reading the main storyContinue reading the main story
    CHRIS ABANI: Whenever my relationships used to end, I would blame the other person and absolve myself. The end of a significant and recent relationship coincided with my deciding to teach Gabriel García Márquez’s “Love in the Time of Cholera” for a class. At the book’s core is the passionate love affair between Fermina and Florentino, conducted via feverish letters. As I reread the book, I recognized myself in Fermina. I was struck by her epiphany on encountering Florentino in the flesh: “She asked herself, appalled, how she could have nurtured such a chimera in her heart for so long and with so much ferocity.” I had an epiphany of my own, and realized that I have always been my own problem. That I have always been more in love with my fantasies of the women I was with, and not with the beautiful and complicated human beings they actually were. That true love demands a ruthless self-honesty and true empathy, it asks us to look beyond our own neuroses so we can truly see the people we love. Literature offers us brutal epiphanies into our own hearts, and always in ways that are transformational.

    Chris Abani’s latest book is “The Secret History of Las Vegas.”

    Photo

    Credit Monika Aichele
    RUTH OZEKI: “Th’ expense of spirit in a waste of shame / Is lust in action. . . . " I first read Shakespeare’s sonnet 129 when I was in high school. I was a worldly kid, old beyond my years, or so I liked to think. The poem — bloody, mad, irregular, overwrought — seemed to be a perfect distillation of my feelings at the time. I barely recall which crush coincided with the discovery, but I do remember falling in love with the sonnet, devouring it, committing it to memory. I remember pacing the corridors and lying in bed at night, muttering the lines savagely to myself in the dark. The poem felt like a rebuttal to all things lovely and temperate, and that suited me just fine.

    And now, as I reread the poem, it tells me a lot about who I thought I was back then, and what I thought I understood about love and poetry. In many ways, I understood the sonnet better then, when love was still a living hell and living heaven, than I do now. Time has plucked the keen teeth from the tiger’s jaws, and now only a dream remains.

    My love shall in my verse ever live young. Every story is a story of survival, and that’s pretty much what literature is, after all. What I have learned about love from literature is love of literature, which is to say, poems like these taught me to survive.

    Ruth Ozeki’s most recent novel is “A Tale for the Time Being,” a finalist for the National Book Critics Circle Award for fiction.

    JEANETTE WINTERSON: St. John of the Cross: “In the evening of life, we shall be judged on love alone.” W. H. Auden: “Let no one say I Love until aware / What huge resources it will take to nurse / One ruining speck, one tiny hair / That casts a shadow through the universe.” Freud: “Men are not gentle creatures who want to be loved.” From 19th-century novels, that love and money are fatally bartered as interchangeable currencies. From poetry, that love is a language that has to be learned. From the Bible, that love is as strong as death. From my novel “Written on the Body”: “Why is the measure of love loss?” But 20 years later I discovered that love could be as reliable as the sun. And that there is one other thing in a world infatuated by wealth. Love never counts the cost.

    Jeanette Winterson is the author, most recently, of “The Daylight Gate.”

    A version of this article appears in print on February 9, 2014, on page BR16 of the Sunday Book Review with the headline: A Sentimental Education. Order Reprints| Today's Paper|Subscribe
     
  7. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,780
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    Người Việt làm TGĐ tập đoàn Nhật: Bí quyết chỉ một chữ "hết lòng"
    26/10/2016 07:58 GMT+7
    http://tuoitre.vn/tin/nhip-song-tre...at-bi-quyet-chi-mot-chu-het-long/1194826.html


    TTO - Ông Đinh Văn Phước - nguyên tổng giám đốc Tập đoàn Tsubaki Yamakyu Chain của Nhật - chia sẻ những trải nghiệm và gợi ý cho tuổi trẻ VN những phương cách làm việc để thành công.

    Người Việt làm TGĐ tập đoàn Nhật: Bí quyết chỉ một chữ "hết lòng" [​IMG]

    Ông Đinh Văn Phước: “Khi xem kỷ luật là một đức tính, nghiêm khắc là một tư cách phải có, hai yếu tố đó sẽ giúp ta tiến bộ” - Ảnh: ĐHHS
    Đến Nhật với học bổng của Bộ Giáo dục Nhật từ năm 1961 khi đang là sinh viên Đại học Khoa học Sài Gòn, ông Đinh Văn Phước vào Công ty Yamakyu Chain năm 1966 với vai trò kỹ sư tập sự, làm cho công ty này suốt 50 năm, về hưu với vai trò tổng giám đốc Tập đoàn Tsubaki Yamakyu Chain của Nhật.

    Ông có nhiều bằng sáng chế Nhật Bản và quốc tế dưới tên Fukukazu Kato, giúp tái cấu trúc Yamakyu Chain thành công ty hàng đầu chế tạo xích băng tải phục vụ dây chuyền công nghệ thực phẩm, cung cấp toàn Nhật Bản, châu Âu, Mỹ...

    Chia sẻ những trải nghiệm của mình, ông mong muốn gợi ý cho tuổi trẻ VN những phương cách làm việc để thành công.

    Bí quyết chỉ một chữ: “hết lòng”

    * Khi ở VN, ông từng học tại những ngôi trường có điều kiện giáo dục tốt nhất thời bấy giờ (Petrus Ký, Đại học Khoa học Sài Gòn). Sang Nhật, ông thấy sự khác biệt nào là lớn nhất về giáo dục giữa VN và Nhật Bản?

    - Điều khác biệt đáng nói nhất là môi trường giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người. Ở Nhật Bản, ngay từ tiểu học, học sinh tham gia các CLB: thể thao, hợp xướng, hòa nhạc, hội họa, diễn kịch, thí nghiệm khoa học... Các em càng lớn, CLB càng tự do, nhà nghề hơn.

    Theo tôi, chính trong không khí vang lừng tiếng reo hò ở sân vận động, không khí trang nhã của phòng triển lãm tranh, quang cảnh tráng lệ của nhà hát lớn mà các em hình thành, ấp ủ nhiều ước mơ.


    * Tuổi trẻ ngày nay thường sốt ruột, muốn thành công sớm, không ngại khó nhưng dễ bỏ cuộc, nhảy việc khi có thêm lựa chọn... Tuổi trẻ của ông có những lúc như vậy không? Ông có những trải nghiệm nào để rút ra phương châm “không nghĩ khó, không lạc quan, không bi quan, không bỏ cuộc”?

    - Tôi tin tuổi trẻ dù ở đâu, thời đại nào đều có hoài bão và bầu máu nóng, là động lực thúc đẩy cải cách và tiến bộ xã hội. Khi còn trẻ, có một thời kỳ ngắn tôi hầu như bỏ cuộc vì bất mãn với cấp trên.

    Nhưng tôi đã may mắn thoát ra khỏi vực thẳm ấy khi nhận ra rằng tất cả đều là do mình, không thể đổ thừa cho ai - cấp trên, bạn đồng nghiệp, môi trường xung quanh, và nếu bỏ cuộc thì vĩnh viễn tôi sẽ là người thua cuộc.

    Tuổi trẻ muốn thành công sớm? Nên khích lệ vô điều kiện. Bill Gates, Honda So-ichiro, Mark Zuckerberg đều thành công khi còn rất trẻ.

    Tuổi trẻ thích nhảy việc? Nhảy việc cũng là một cơ hội tiến thân. Hãy tin vào sức phán đoán của tuổi trẻ, chỉ cần họ biết chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Nên tự hỏi: Mình nhắm đến cái gì mà nhảy việc?

    Điều đó có thực hiện được trong môi trường mới không? Nếu chỉ vì hơn kém chút ít đồng lương thì không nên, vì sẽ phải bắt đầu lại từ con số 0.

    Còn “sốt ruột và bỏ cuộc” thì tuyệt đối không nên. Tôi tin bạn trẻ VN biết các câu “Nước chảy đá mòn”, “Có công mài sắt có ngày nên kim”, “Nhất nghệ tinh nhất thân vinh”...

    Cùng chạy

    * Thành công nào làm ông tự hào nhất? Ông đã đạt được điều đó như thế nào?

    - Điều nức lòng nhất là khi công ty chúng tôi dần chiếm được ưu thế trong cạnh tranh, cuối cùng dẫn đầu trong ngành, dù chúng tôi chỉ là tập hợp của những người bình thường về khả năng, bắt đầu từ vị trí yếu kém về vốn, nhân tài, tích lũy kỹ thuật, cơ cấu tổ chức...

    Vai trò của tôi có thể gói ghém trong vài chữ: chia sẻ - hỗ trợ - động viên. Người chỉ huy không thể là người chạy một mình phía trước. Anh ta phải cùng chạy với mọi người.


    * Trong mấy mươi năm làm việc của ông, thất bại nào lớn nhất? Ông đã vượt qua và khắc phục bằng cách nào?

    - Gần nửa thế kỷ chỉ làm việc cho một công ty, thất bại thì nhiều nhưng tôi không phạm thất bại nào lớn. Ngược lại khi công ty kiệt quệ vì thua lỗ, tôi được ủy thác nhiệm vụ xây dựng lại. Cũng chỉ với chừng ấy người cũ, chúng tôi đã vươn lên vị trí đầu ngành.

    Bí quyết chỉ một chữ: hết lòng. Hết lòng làm việc thì vận dụng được khả năng của mình; hết lòng với mọi người thì được sự tận tình của người khác; hết lòng tính toán đến cả tình huống xấu nhất thì không gì lại không thể giải quyết. Người thất bại là người không hết lòng, cứ ỷ vào người kia, chuyện khác.

    Làm một người Nhật

    * Ngày hôm nay, ông nhận mình là người VN hay Nhật Bản? Ông nghĩ điều tiên quyết người Việt nên học ở người Nhật là gì?

    - Gốc rễ tôi là VN. Tôi nghĩ điều tiên quyết nên học người Nhật là “khao khát cầu học - cầu tiến và tinh thần chia sẻ”. Qua những tiếp xúc tuy giới hạn nhưng trải dài suốt đời, tôi nhận xét người VN không thực sự cầu học - cầu tiến.

    Không nhiều thì ít, ai trong chúng ta cũng thường tự hào đến mức tự mãn, hoặc về dân tộc, hoặc về hiểu biết. Và như thế, ta tự đánh mất cơ hội học hỏi. Khi tự mãn, bạn sẽ vô tình hay cố ý biến thành người cản trở cải cách.


    Quá trình dựng nước của Nhật Bản từ ngàn xưa đến giờ là quá trình không ngừng cầu học - cầu tiến. Ngày xưa triều đình phái nhân tài sang học Trung Quốc. Cuối thế kỷ 19, thành phần lãnh đạo chủ trương “thoát Á nhập Âu” vì thấy được sức mạnh cơ giới.

    Giai tầng bên trên tiếp cận kiến thức mới, họ lập chiến lược, phát động truyền bá rộng rãi. Sự cộng hưởng của dân chúng đã giúp canh tân được đất nước. Trong đời thường, tính cầu học - cầu tiến thể hiện rõ trong cách làm việc. Dù làm đôi dép rơm, người Nhật cũng muốn nâng lên hàng nghệ thuật.

    * Nhiều người nhận xét cuộc sống của người Nhật quá căng thẳng vì sự kỷ luật, nghiêm khắc, ông có cảm giác đó không?

    - Cuộc sống ở Nhật có sự cạnh tranh khắc nghiệt và tinh thần trách nhiệm cao. Nhận xét người Nhật sống căng thẳng là đúng, nhưng cho đó là vì sự kỷ luật, nghiêm khắc thì không đúng.

    Kỷ luật là dân tộc tính của người Nhật. Đợi lên xe, người ta xếp hàng. Đứng chờ nhận thức ăn hay đồ cứu trợ sau thiên tai, họ kiên nhẫn, không chen lấn, giành giật. Điều đó tự nhiên như ta hít và thở. Hít thở mà căng thẳng là đã mắc bệnh.

    Trong công việc người Nhật nghiêm nghị, tỉ mỉ và thiện chí. Công ty tôi đã phạm nhiều lỗi kỹ thuật, gây thiệt hại trầm trọng cho một số khách hàng. Nếu họ khắt khe, hẳn chúng tôi đã phá sản.

    Điều họ buộc chúng tôi làm là tìm ra nguyên nhân sai sót, giải quyết bằng cách nào, khi nào xong? Mục đích là để nhà máy có thể sớm chạy lại được, chuyện trách nhiệm, tiền bạc tính sau.

    Khi xem kỷ luật là một đức tính, nghiêm khắc là một tư cách phải có, hai yếu tố đó sẽ giúp ta tiến bộ. Tất cả tùy thuộc vào cách nhận định tiêu cực hay tích cực. Tôi đề nghị chọn tích cực.

    Vấn đề của Việt Nam: chiến lược

    * Ông có nhiều bằng sáng chế về băng tải, đó có phải là đam mê thời trẻ của ông không? Kinh nghiệm nào để nuôi sự sáng tạo, nhất là công việc kỹ thuật khô khan? Theo ông, vì sao các nhà khoa học VN ít sáng tạo, để nên nỗi “không sản xuất được con ốc đúng tiêu chuẩn”?

    - Thực ra lúc trẻ tôi không có ước mơ hay đam mê nào đáng nói. Tôi chỉ cắm đầu học, đi thi cho đậu, bởi thi rớt sẽ bị bắt đi lính.

    Sáng chế của tôi là kết quả của khổ công ngày đêm suy nghĩ, tìm hết cách để giải quyết khiếm khuyết của sản phẩm, nỗ lực đáp ứng đòi hỏi của khách hàng. Mỗi bằng sáng chế là chứng nhận một tính năng mới cho sản phẩm.

    Trong thời đại của ôtô điện, Internet, trí tuệ nhân tạo, kinh tế chia sẻ... dù có làm được mấy con ốc đúng tiêu chuẩn cũng không thể đưa VN lên hàng có sức cạnh tranh với thế giới.

    Đáng thảo luận hơn là phải có tầm nhìn để đầu tư vào một trọng điểm, tham gia “chuỗi cung ứng” trên toàn cầu. Nếu sản xuất con ốc, phải là loại chỉ riêng nhà máy mình chế tạo được, mới đủ sức cạnh tranh theo đúng luật chơi, tiêu chuẩn quốc tế.

    Trong điều kiện VN, tôi không hoang tưởng về các sáng tạo mở cửa cho một “chân trời mới”. Tôi đề nghị nên tập trung vào sáng kiến trong lĩnh vực chế tạo, kết hợp một số tính năng có sẵn để sinh ra tính năng mới trong điều kiện ứng dụng mới.

    Say mê, trực giác, hiếu kỳ, nỗ lực cải tiến đều là cội nguồn sáng tạo. Ý tưởng như một tia chớp bắt nguồn từ cá nhân, nhưng để có một sản phẩm hữu dụng phải có sự hợp sức của nhiều người, nhiều ngành. Để phát huy được sáng tạo, cần có chiến lược và tạo môi trường khiến mọi người hăng say làm việc.

    * Một trong những vấn đề thời sự nóng bỏng tại VN là môi trường bị ô nhiễm trước chất thải công nghiệp. Nhiều năm làm việc trong ngành công nghiệp ở nơi vốn khắt khe trong bảo vệ môi trường như Nhật Bản, quan điểm của ông về vấn đề này?

    - Nước nào trong quá trình công nghiệp hóa đều vấp vấn đề ô nhiễm môi trường, vì dành ưu tiên cho phát triển, ưu đãi các tập đoàn, và nhất là vì không biết trước đâu là vấn đề. Là nước đi sau, chuyện diễn ra ở VN chắc chắn đã xảy ra ở đâu đó. Chỉ cần truy cập tin tức sẽ biết cách mà họ đã giải quyết.

    Song song phải là minh bạch thông tin. Không có sự tích cực và chính xác trong thông tin, tự nó là sự giấu giếm, ém nhẹm. Chính ở đây báo chí đóng vai trò rất quan trọng.

    Giải quyết an toàn thực phẩm, chặt cây xanh, cá chết hay các vấn đề khác trong tương lai, theo tôi, không khó về kỹ thuật, mà khó trong xây dựng chiến lược phát triển quốc gia biết chú trọng bảo vệ môi trường. Trách nhiệm đó thuộc về nhà nước, hoàn toàn nằm ngoài tầm tay một cá nhân.

    Biết ơn


    * Ông đã từng được chia sẻ, giúp đỡ như thế nào khi còn là một sinh viên, một người Việt trẻ ở xứ lạ?

    - Sự giúp đỡ của người Nhật và xã hội Nhật khó nói hết được. Họ giúp chúng tôi vô vụ lợi, từ các thầy trong nhà trường đến các đàn anh trong CLB bóng bàn, karate tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, các bạn sinh viên ủng hộ phong trào đòi hòa bình cho VN...

    Tôi tin rằng dù sống ở đâu, thành công của mỗi người tuy xuất phát từ nỗ lực và tài năng cá nhân, nhưng tất cả chỉ thực hiện được trong lòng xã hội. Ở đó có cha mẹ, anh em, bà con, vợ/chồng, con cái, bạn bè, láng giềng, môi trường giáo dục, đồng nghiệp, khách hàng, tiện nghi do xã hội cung cấp... Không một ai thành công mà không nhận ơn huệ của xã hội. Quan niệm sống của tôi là “biết ơn”.

    * Điều gì ông đang dự định làm sắp tới?

    - Tôi đang tự cho phép mình nghỉ ngơi sau nửa thế kỷ làm việc cật lực. Nếu có làm gì, đó là các công việc hướng đến giới trẻ VN.

    PHẠM VŨ thực hiện
     
    Last edited: Oct 28, 2016
  8. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,780
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a

    https://hieuminh.org/2016/12/26/lan-man-ve-nghe-pho-nhay/ - Lan man về nghề phó nháy

    https://hieuminh.org/2013/12/14/goc-anh-duong-minh-long/ - Góc ảnh Dương Minh Long

    https://hieuminh.org/2015/07/10/gap-nguyen-dinh-toan-o-loc-vang/ - Gặp Nguyễn Đình Toán ở Lộc Vàng
     
  9. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,780
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    http://www.thesaigontimes.vn/155659/Khi-con-nguoi-la-con-nguoi.html

    Khi con người là con người!


    Danh Đức
    Thứ Năm, 5/1/2017, 08:07 (GMT+7)



    (TBKTSG) - Một buổi sáng như mọi ngày, người đàn ông lớn tuổi chạy xe gắn máy lên cầu Kênh Tẻ, một cây cầu mà từ hai năm qua, xe hơi đã “tự do” chạy vào làn xe hai bánh, không chỉ đơn giản lấn làn ở dưới cầu, mà còn chạy hàng đôi trên cầu, đến nỗi có những chủ xe hai bánh phải leo lên lan can cầu để được yên thân. Do lẽ, những người lái xe bốn bánh đó, không chỉ “tự do” lấn tuyến xe hai bánh mà còn tự cho mình cái quyền bóp kèn buộc xe chạy phía trước dạt ra tránh chỗ cho mình thoải mái lái! Sáng sớm hôm nay, người đàn ông bị một xe bảy chỗ to đùng như xe tăng chạy phía sau bóp kèn dẹp đường miết, cứ thế anh ta leo lên đến giữa cầu, dạt mọi xe hai bánh vào lề cho anh ta qua mặt. Mấy chị phụ nữ chạy xe hai bánh khác cũng bị bóp kèn ép nhường đường như thế. Người đàn ông vẫn đi trên làn đường của mình, lấy tay trái trỏ qua làn xe hơi, ra hiệu hãy về làn đó mà chạy cho đúng luật, nhưng tay lái xe vẫn ép tất cả vào lề. Chủ xe, ngồi phía sau, lấy tay giật cổ áo tài xế, có lẽ đang nhắc “thôi bỏ đi” vì thấy chướng!

    Người đàn ông chợt nhớ hai tuần trước, vợ chồng ông lên xe ở “ga Lyon đèn vàng”, lúc đang khệ nệ vác hai cái va li lên tầng trên của xe lửa thì được một người đàn ông bản xứ trạc tuổi ba mươi, phụ vác cái va li thứ nhì “lên lầu” giùm. Vác xong, anh ta còn hỏi: “Ông xuống ga nào?”. Khi nghe trả lời cùng xuống ga Marseille, anh ta nói: “Ông yên chí. Chừng tới nơi, tôi sẽ phụ ông”. Ba tiếng rưỡi sau, tàu dừng bánh, vợ chồng ông từ cuối toa lò dò ra đầu toa đã thấy hai cái va li to đùng của mình yên vị ở “tầng dưới”, ngay ngắn sát một bên vách toa, ngay cửa ra. Người đàn ông “Samaritain” (1) cùng cậu con trai năm sáu tuổi, đã xuống tàu từ lúc nào, không đợi cám ơn! Người vợ nhớ lại cảnh lúc người đàn ông bản xứ vác va li giùm vợ chồng bà, cậu con trai nhìn cha mình bằng một cặp mắt khuyến khích! Khi cậu bé con tròn xoe đôi mắt chiêm ngưỡng cha mình giúp người cao tuổi, thì đó cũng chính là lúc cậu bé được người cha gieo trồng “hạt giống” con người. Chắc chắn, từ “hạt giống” đó sẽ đâm hoa kết trái con người. Văn hóa, gieo trồng (cultura, culture) là như thế. Văn hóa đâu từ “lỗ nẻ” chui lên hay từ bằng cấp tự kiêu chỉ chăm chăm “hơn người”! Chính cái “hạt giống” con người đó đã rèn thành bản năng thắng đứng bánh ở ngã tư, nhường đường cho người đi bộ qua đường, cho xe khác đang ở vị trí ưu tiên, thậm chí thắng đứng bánh ở ngã tư ngay cả giữa đêm khuya, ngó phải, ngó trái rồi mới chạy tiếp, chớ không bóp kèn từ xa để tha hồ chạy hết ga qua ngã tư như ở nơi khác...! Có gieo cái “hạt giống” con người đó, mới mong có được những con người biết cư xử trong nhường nhịn, trong tự xử, chớ không tranh hơn cho bằng được rồi vỗ ngực tự khen “chúng tôi có văn hóa” như “dân Pharisiêu” đạo đức giả!

    Vẫn còn ám ảnh vì cảnh “người ép người” sáng hôm ấy, vài ngày sau, một buổi trưa nắng, nhà xa không dám chạy xe về, người đàn ông ghé vào một rạp chiếu bóng tư nhân trong một siêu thị ở Gò Vấp, không phải để coi phim, mà để ngủ trưa. Vãn tuồng, đang lò dò bước xuống các bậc thang, chân cà nhắc từ khi bị đứt dây chằng Achilles, bỗng thấy cô soát vé đang đứng chào khách ở cửa ra, hộc tốc tiến về phía mình, tưởng cô vội vàng chạy đi làm gì đó, bỗng thấy cô ta giơ tay đỡ xuống các bậc thang!

    Gặp lại một con người, hạnh phúc thay! Ít nhất cũng hâm lại niềm tin rằng xã hội chúng ta vẫn còn đó, vẫn còn được tiếp nối, nếu không bằng sự giáo dục của nhà trường, thì cũng bằng sự đào tạo nghề nghiệp của những công ty “như thế”! Chẳng cần treo biểu ngữ này, khẩu hiệu kia. Mà treo làm chi những diệu vợi trên trời, dưới biển! Pascal đã chẳng dạy “muốn làm thiên thần, lại hóa thành con vật” hay sao? Hãy cứ làm người đi đã!

    (1) Trong Kinh Thánh, có ngụ ngôn về một người gặp nạn giữa đường, chẳng ai đồng bào cứu giúp, trừ một người dân “ngoại” Samaritain ra tay...
     
  10. nvha

    nvha Active Member MBA Family

    Joined:
    Mar 20, 2007
    Messages:
    1,780
    Likes Received:
    0
    Trophy Points:
    36
    Current city/country:
    HCMC, Vietnam
    Current employer/school:
    VSI
    Undergrad major:
    N/a
    MBA (intent) major/School:
    N/a
    https://tuoitre.vn/tran-ngoc-phuc-40-phut-va-40-nam-505044.htm


    Trần Ngọc Phúc, 40 phút và 40 năm


    04/08/2012 19:49 GMT+7

    TTCT - Trong cuộc chọn lựa suốt hai năm chuẩn bị cho chuyến thăm hằng năm của Nhật hoàng Akihito đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có ba doanh nghiệp được đưa vào “short list”. Sự chọn lựa cuối cùng thuộc về Metran, doanh nghiệp sản xuất những thiết bị giúp thở chỉ có 35 nhân viên. Chủ doanh nghiệp là một người gốc Việt.


    Ông Trần Ngọc Phúc (bìa trái) trình bày về sản phẩm máy giúp thở nhân chuyến thăm của Nhật hoàng Akihito tới Metran - Ảnh: mạnh kha
    Để chuẩn bị cho chuyến thăm diễn ra hôm 5-7 vừa qua, trước đó cả tháng các toán nhân viên an ninh hoàng gia và những thị thần cung đình đã lên sơ đồ lộ trình di chuyển của nhà vua đến từng chi tiết, thị sát toàn bộ doanh nghiệp, thậm chí cả tách trà mà Metran chuẩn bị riêng cho nhà vua. Tất cả nhân viên đều được yêu cầu làm việc bình thường, không tự động đến gần đức vua và chỉ trả lời những gì vua hỏi chứ không đặt câu hỏi lại.

    Chuyện kể của người tháp tùng Nhật hoàng

    Vào ngày nhà vua đến, nhân viên an ninh ngồi vào ghế tổng đài điện thoại của công ty lịch sự cắt tất cả cuộc gọi đến và đi. Lời căn dặn sau cùng là: tất cả đều tập trung vào nhà vua, ngay cả ông bộ trưởng công nghiệp Nhật đến trước để chào đón vua cũng phải chờ và cũng không cần rót trà cho ông ấy. Người duy nhất được phép đón và đi gần nhà vua suốt cuộc thăm viếng là người sáng lập doanh nghiệp Metran, ông Trần Ngọc Phúc.

    Tường thuật chuyến thăm của Nhật hoàng, ông Phúc kể: “Sau khi nghe giải thích về công nghệ và các ưu việt của thiết bị giúp thở của Metran, vua gật đầu ngợi khen nói: nhiều người sẽ được cứu, phục vụ được quốc dân. Dù là thiết bị dành riêng để cứu trẻ em sinh non, nhưng nhà vua cũng rất quan tâm đến việc máy giúp thở có thể áp dụng cho những người lớn tuổi bị hội chứng ARDS (hội chứng suy giảm hô hấp cấp), máy lại bảo vệ được phổi của người thở vì dùng phương pháp thở bảo tồn (Protective Ventilation), Ngài nghĩ có thể dùng làm quà tặng đặc biệt cho các hoàng tộc khác trên thế giới. Sau đó, Ngài có cuộc tiếp kiến riêng thân mật với các nhân viên cấp dưới.


    Một nhân viên người Nhật sinh trưởng tại Canada, với phong thái khá Tây đã phá vỡ luật định khi chủ động nói với vua rằng tuần sau vợ anh sinh con, anh thấy nước Nhật an toàn hơn khi trẻ sơ sinh có các thiết bị giúp thở của Metran. Vua không phật ý mà còn thân mật chúc mừng anh và cháu bé sắp ra đời. Lúc đó, một thị thần vào thông báo đã hết giờ, nhưng thiên hoàng bỏ qua và tiếp tục cuộc trò chuyện thân mật với các nhân viên và thần dân của mình!”.

    Cuộc viếng thăm của Nhật hoàng đến một doanh nghiệp Việt kiều đã được truyền thông Nhật đăng tải liên tục suốt tháng 7 qua. Đầu tháng 8 này, truyền hình Nhật Bản sẽ cùng ông Phúc về Việt Nam thực hiện một phim tài liệu về hành trình cuộc đời ông. Nhưng để có được cuộc tháp tùng 40 phút bên cạnh thiên hoàng, ông Trần Ngọc Phúc đã trải qua 40 năm kiên trì hội nhập vào đời sống, tình cảm, công nghệ của nước Nhật, tính từ năm 1968 khi anh sinh viên trẻ trung Trần Ngọc Phúc rời quê hương du học ngành hóa công nghiệp tại Đại học Tokai.

    Tinh thần “nhất nghệ tinh”

    Kỳ lạ thay, điều đầu tiên ông học được từ phong cách Nhật không hẳn là cái gì quá cao xa, ông tâm sự: “Nó có gì đó giống với tinh thần “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” của ta. Làm nghề gì thì làm cho thuần thục, đạt đến độ tinh xảo nhất, không hời hợt, không qua loa, không thay đổi xoành xoạch. Có một nhà báo phương Tây bảo rằng người Nhật hitech trong cả cách cắm một bông hoa, gấp một con hạc, làm một miếng sushi… “Công nghệ cao, hitech” có thể hiểu theo tinh thần “làm việc tinh xảo” đó nữa, chứ không chỉ là kỹ thuật cao”.

    Ông Phúc dường như học rất kỹ điều này nên sau khi tốt nghiệp đại học năm 1974, mất thêm 10 năm đi thực tập nghiên cứu rồi làm việc tại các công ty, ngay khi có đủ điều kiện, từ năm 1984 ông đã bỏ ra gần 30 năm để chỉ làm một việc cho thật tinh xảo: đó là chế tạo các máy giúp thở để cứu người.

    Đầu tiên là cứu các trẻ em sinh non, đặc biệt là “siêu sinh non” (tức trọng lượng khi sinh dưới 1.000 gam). Nguyên tắc của hô hấp hoạt động như sau: khi ta hít để lấy không khí vào phổi thì các bắp thịt ở ngực kéo phổi nở ra, bên trong phổi là áp lực âm để khí tràn vào. Nếu bệnh nhân bị bệnh polio gây liệt cơ hay chấn thương não nên không thể điều khiển để cơ kéo giãn phổi thì phổi không nở ra để hút không khí vào được. Lúc đó, người ta dùng máy thở thông thường, dùng áp lực bên ngoài (áp lực dương) để bơm không khí vào phổi.

    Nhưng phương pháp này lại gây tác hại lớn đối với trẻ sơ sinh sinh non vì phổi của trẻ chưa hoàn thiện, chưa nở ra, khi dùng áp lực bên ngoài đẩy vào, không khí không vào được các phế nang của phổi mà lại làm khí quản phình ra gây nguy hại đến tính mạng. Trong trường hợp này, nhiều lúc người ta không tăng áp lực bơm mà tăng lượng oxy đưa vào, nhưng nếu lượng oxy vượt quá 40% sẽ gây mù cho cháu bé. Để cứu trẻ, nhiều lúc người ta phải chọn giải pháp cứu sống nhưng bị mù lòa.

    Để giải quyết vấn đề này, ông Phúc đã dùng 30 năm làm việc của mình để sáng tạo và hoàn thiện thiết bị giúp thở mới, gọi là máy thở rung cao tần HFO (High Frequency Oscillatory Ventilation). Nguyên tắc của máy không phải là bơm không khí vào mà là rung từ từ cho oxy thấm và tan nhẹ vào buồng phổi yếu ớt của cháu bé. Trong một phút thay vì bơm thở theo nhịp 15-20 lần thì máy thở HFO rung nhẹ 900-1.500 lần để đưa rất êm ái không khí thấm dần vào các phế nang của phổi.

    [​IMG]
    Nhật hoàng Akihito tới trụ sở doanh nghiệp Metran - Ảnh: mạnh kha
    Thử nghiệm cho các đại dịch

    Kết quả thống kê tại Nhật cho thấy theo đà hoàn thiện của máy giúp thở HFO, tỉ lệ tử vong của trẻ sinh non tại Nhật giảm dần trong hơn một thập niên qua. Đối với trẻ sinh non cân nặng 900 gam, số tử vong năm 1990 là 150 cháu thì đến năm 2005 chỉ còn dưới 50 cháu. Đối với trẻ nặng 600 gam thì tử suất năm 1990 là 400 cháu và năm 2005 chỉ còn 200 cháu. Đặc biệt đối với trẻ nhẹ hơn 400 gam thì tử vong từ 1.000 cháu năm 1990 chỉ còn dưới 500 cháu vào năm 2005.

    Với những con số như thế, dễ hiểu tại sao thiết bị này hiện được trang bị tại 90% các trung tâm chăm sóc trẻ sơ sinh toàn nước Nhật với hơn 1.400 máy đang vận hành. Ngoài ra có hơn 200 máy đã được xuất khẩu đến 12 quốc gia trên thế giới.

    Dù mục đích xuất phát là hỗ trợ trẻ sơ sinh, nhưng thiết bị dần được hoàn thiện và hứa hẹn nhiều tiềm năng mới. Hiện nay, Đại học Oxford của Anh đang tiến hành thử nghiệm thiết bị của Metran cho 800 bệnh nhân mắc hội chứng ARDS. Chương trình đã bắt đầu và dự kiến sau hai năm theo dõi, Oxford sẽ công bố kết quả. Nếu thành công, phương pháp sẽ được công nhận rộng rãi toàn cầu. Ngoài ra, trong một số hướng nghiên cứu mới, máy thở có thể xem xét áp dụng trong trường hợp có các đại dịch như cúm gia cầm, mà tác hại lớn là sưng phổi, làm buồng phổi dễ bị tổn thương, nên phương pháp thở bằng HFO sẽ rất tốt trong trường hợp này.

    Có một số lượng lớn du học sinh Việt Nam đến học tập tại Nhật Bản hồi giữa thập niên 1960. Sức hút của xứ sở này đối với các chàng trai cô gái tâm huyết thuở ấy có thể xuất phát từ truyền thống Đông Du thời cụ Phan Bội Châu đầu thế kỷ 20, có thể do một nền công nghệ kỹ thuật hàng đầu và sự hồi sinh kỳ diệu của đất nước này sau thảm bại 1945, cũng có thể do những lôi cuốn và tương đồng về văn hóa… Riêng ông Phúc thì câu trả lời cũng giản dị: việc chọn lựa nước Nhật là do các quan hệ gia đình ở Huế, vốn là gia đình phật tử nên các thầy giới thiệu về nước Nhật riết rồi thấy quen thuộc.

    Ông nói thêm: “Đi học ở Nhật khó hơn các nước phương Tây vì vấn đề ngôn ngữ, nhưng học ở Nhật ta tìm thấy cái tinh thần gầy dựng một quốc gia, vượt qua các tai biến để vươn lên, rất gần với Việt Nam”.

    Bốn thập niên đã trôi, xuyên qua hai thế kỷ với biết bao thay đổi trong nhận thức của con người, của thời thế vẫn không làm phôi pha cái chất lý tưởng trong những điều rất giản dị mà ông Phúc nói ra hay làm được. Đó là sự giản dị không đơn giản, vô cùng tinh tế và hệ trọng như hơi thở mỏng manh từ buồng phổi của một sinh linh chỉ cân nặng 500 gam đang tha thiết được sống lành lặn và trọn vẹn. Có lẽ cũng vì sự tinh tế đó mà Nhật hoàng mới cất công ghé thăm một doanh nghiệp chỉ có 35 nhân viên và chỉ sản xuất một loại sản phẩm duy nhất này.

    Hỏi cảm giác của ông Phúc về vinh dự được trò chuyện gần 40 phút với Nhật hoàng, ông nhẹ nhàng cười: “Ở Nhật, vua là thượng đế, người ta gọi vua là thiên hoàng mà! Còn tôi, tôi đặc biệt ấn tượng bởi một nhân vật cao trọng như thế, rất thông thái, bác học trong nhiều lĩnh vực, nhưng phong thái rất giản dị và tao nhã”.

    __________

    Xem them o link vi bai dai qua, khong post duoc tren VMBA : https://tuoitre.vn/tran-ngoc-phuc-40-phut-va-40-nam-505044.htm

    LƯU VĨ LÂN
     

Share This Page